Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979

Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 

Trương Tiểu Minh
Air War College
Montgomery, Alabama, Mỹ

Nguyên tác:
Xiaoming Zhang,

China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment
The China Quarterly, bộ 184, tháng 12 năm 2005, trang 851-874

Lời người dịch: Thấm thoát đã hơn 30 năm từ ngày cuộc chiến Việt-Trung nổ ra năm 1979, và mặc dù cả hai nước đều cho là mình đã thắng, số lượng tài liệu được Trung Quốc và Việt Nam công bố về cuộc chiến tranh này vẫn còn rất ít. Bài viết dưới đây của một học giả gốc người Trung Quốc (hiện giảng dạy tại trường Cao Đẳng Không Chiến (Air War College) thuộc Bộ Không Quân Mỹ) được đăng vào năm 2005 trên tờ China Quarterly, một tạp chí quốc tế có uy tín xuất bản tại Anh, là một công trình học thuật đáng chú ý về cuộc chiến tranh này. Để giữ sự trung thực so với nguyên bản, người dịch đã cố gắng truyền đạt cách diễn tả của tác giả. Khi đọc bài này, nhiều độc giả Việt Nam có thể sẽ cho rằng một số nhận xét của tác giả là rất chủ quan và nhiều vấn đề là khá nhạy cảm. Tuy nhiên bài viết này, ở mức độ nào đó, cung cấp nhiều thông tin đã được kiểm chứng và có giá trị sử liệu. Hy vọng bài viết này cũng tạo nên một sự thôi thúc để Trung Quốc, và đặc biệt là chính quyền Việt Nam, cung cấp thêm nhiều thông tin và bằng chứng để các nhà sử học cũng như thế hệ tương lai có một cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về cuộc chiến tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này.

Mục đích của bài báo này là nhằm trình bày về cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam vào năm 1979. Bài báo nhắc lại những mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc với Việt Nam và ảnh hưởng của những mối quan hệ này lên những toan tính chiến tranh của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình, chiến lược quân sự và sự chuẩn bị của Trung Quốc cho cuộc tấn công. Bài báo cũng chỉ ra cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh mang màu sắc đặc thù Trung Quốc như thế nào: tính toán khi nào và sử dụng ra sao sức mạnh quân sự, mục tiêu quan trọng trong chiến tranh, và cơ sở trong việc nhận định về thắng lợi. Bài báo cũng điểm lại những hậu quả của cuộc xung đột ở cả hai lĩnh vực chính trị và quân sự, những bài học đã được rút tỉa dưới con mắt của chính người Trung Quốc. 

Đầu năm 1979 Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam, theo cách nói của lãnh đạo Trung Quốc là để “dạy cho Việt Nam một bài học” nhớ đời. Mặc dầu Bắc Kinh tự cho là đã thắng lợi nhưng nói chung trong giới học giả vẫn tồn tại nhiều tranh cãi cho rằng cuộc chiến tranh đã không diễn ra như Trung Quốc mong đợi vì trong cuộc xung đột này Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QGPND) đã tác chiến hết sức tồi tệ. Chính Trung Quốc chứ không phải Việt Nam đã rút ra một bài học từ cuộc chiến này. Các tài liệu của Trung Quốc về cuộc chiến tranh này vẫn được niêm phong rất cẩn mật do đó các thông tin về cuộc chiến không chỉ chắp vá chủ quan mà còn đáng ngờ về tính xác thực. Mặc dù đã có một ít tài liệu bằng tiếng Anh, nhưng phần nhiều chỉ là đồn đoán và không chính xác, lưu truyền không chính thức ở Hồng Kông và Đài Loan. Gần đây do việc kiểm soát thông tin của Bắc Kinh có phần lỏng lẻo hơn nên nhiều tài liệu lưu hành nội bộ về khả năng và kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh 1979 đã thấy xuất hiện rải rác trong các thư viện tại Mỹ và có thể truy cập trên Internet. Thêm vào đó, hồi ký của một số sĩ quan cao cấp Trung Quốc cũng đã cho thấy nhiều thông tin giá trị.

Dựa trên các tư liệu nghiên cứu của một số học giả hàng đầu, bài viết này cố gắng trình bày cái nhìn của người Trung Quốc đối với cuộc chiến Việt-Trung năm 1979. Đầu tiên là thảo luận về các mối quan hệ lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam và ảnh hưởng của các mối quan hệ này trên quyết định tấn công Việt Nam của Bắc Kinh, cũng như vai trò của Đặng Tiểu Bình. Kế đến là xét lại vai trò của QGPND bao gồm chiến thuật, chiến lược của Trung Quốc cho cuộc xâm lăng và những quan điểm riêng của QGPND về vận hành bộ máy quân sự. Cuối cùng là điểm lại những tác động của cuộc xung đột, trên cả hai lĩnh vực chính trị cũng như quân sự, và những bài học rút ra bởi chính người Trung Quốc. Bài báo cũng đưa ra những dẫn chứng về cách thức tiến hành chiến tranh của Bắc Kinh, chỉ ra tính đặc thù kiểu Trung Quốc trong tác chiến: không ngần ngại sử dụng sức mạnh quân sự sau khi tính toán một cách cẩn thận khi nào và sử dụng ra sao; mục tiêu quan trọng của QGPND là giành và giữ thế chủ động trong tác chiến, và nền tảng cơ bản mà người Trung Quốc đã dựa vào đó để đánh giá thành công về mặt quân sự, đó là lợi thế địa chính trị hơn là hiệu suất tác chiến. Mặc dù đã bị người Việt Nam làm khốn đốn nhưng QGPND đã hoàn thành được mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh, buộc Việt Nam phải chia lửa cho phòng tuyến ở biên giới phía bắc, và buộc quốc gia này phải giảm phiêu lưu quân sự ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, QGPND vẫn chưa rút ra được bài học từ cuộc chiến tranh này, đó là truyền thống và triết lý quân sự của Trung Quốc đã quá lỗi thời, điều này có thể cản trở công cuộc hiện đại hóa thay đổi bộ mặt của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Yếu tố văn hóa lịch sử

Bắc Kinh và Hà Nội đã từng là đồng minh thân thiết kể từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm đầu thập niên 1950. Thế thì tại sao sau đó nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa lại đi đến quyết định tiến hành chiến tranh với nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào cuối năm 1978? Theo lý lẽ của Bắc Kinh thì dường như nguyên nhân là do “giấc mộng xưng bá” của Hà Nội ở khu vực Đông Nam Á; gây hấn ở biên giới với Trung Quốc và xâm phạm vào lãnh thổ của Trung Quốc; ngược đãi người Hoa ở Việt Nam; đi theo Liên Xô trong lúc nước này đang muốn mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Các nhà quan sát vào thời điểm đó và nhiều nghiên cứu sau này cho rằng mục tiêu hàng đầu của Bắc Kinh là làm giảm bớt áp lực quân sự lên Campuchia, buộc quân đội Việt Nam phải chia lửa ở mặt trận thứ hai. Robert Ross (học giả người Mỹ, hiện là giáo sư ở Boston College – ND) thì cho rằng việc Trung Quốc sử dụng quân đội chống lại Việt Nam không phải là phản ứng trước sự bành trướng của Hà Nội ở Đông Dương mà là phản ứng trước sự về hùa của Việt Nam với Liên Xô nhằm bao vây Trung Quốc từ Đông Nam Á. Những nghiên cứu khác lại cho rằng Trung Quốc hành động như thế để làm mất thể diện của Liên Xô, nước đang đóng vai trò như một đồng minh tin cậy của Hà Nội trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.

Trong một nghiên cứu về mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội trước chiến thắng 1975, Trại Cường (Zhai Qiang) tác giả cuốn China and the Vietnam Wars, 1950-1975 — ND) đã cho rằng “chính sách thực dụng không chỉ là lời nói suông” được phát đi từ các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đề cập đến các mối quan hệ quốc tế. Mặc dầu họ tuyên bố chính họ là những môn đồ của chủ nghĩa quốc tế Mác-Lênin song họ lại kế thừa hoàn toàn cái di sản lịch sử của Trung Hoa: quan niệm Đại Hán theo đó Trung Quốc là cái nôi của thế giới. Các quốc gia nhỏ bé khác bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam, là man di và phải là những chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Mặt khác, “niềm kiêu hãnh lịch sử và độ nhạy cảm văn hóa” là nhân tố chính có ảnh hưởng đến thái độ của người Việt Nam đối với Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử của mình, người Việt Nam đã thích thú khi vay mượn và bắt chước nền văn minh cũng như thể chế Trung Quốc để làm nên bản sắc riêng, nhưng họ lại rất sắt đá trong việc bảo tồn di sản văn hóa và nền độc lập của họ. Họ yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ khi gặp khó khăn nội bộ, nhưng khi họ giành được tự do và thống nhất đất nước thì họ lại quay ra thù địch với Trung Quốc. Những hình ảnh được khắc ghi trong lòng các lãnh tụ và nhân dân hai nước về tình hữu nghị giữa hai quốc gia dường như đã đóng một vai trò đáng kể trong quyết định của Bắc Kinh khi tiến hành cuộc tấn công trừng phạt chống lại Việt Nam.

Từ đầu những năm 1950, Trung Quốc đã là người hậu thuẫn mạnh mẽ của Hà Nội trên cả hai lĩnh vực quân sự lẫn chính trị. Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại Pháp và đánh đuổi xâm lược Mỹ. Những nghiên cứu ngày nay đã chỉ ra rằng chính sách của Trung Quốc dành cho Hà Nội trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên là xuất phát từ việc cân nhắc nhiều mặt từ truyền thống lịch sử đến ý thức hệ cách mạng và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, thái độ bề trên của Bắc Kinh vẫn thống trị tư tưởng của họ trong quan hệ với Việt Nam. Mặc dầu các lãnh tụ Trung Quốc lặp đi lặp lại tuyên bố rằng Việt Nam sẽ được đối xử “bình đẳng” nhưng Trần Kiên (Chen Jian) lại thấy rằng chính những phát biểu hùng biện đó đã phản ảnh niềm tin mạnh mẽ rằng “họ đã nắm được vị thế để có thể chi phối mọi quan hệ với các nước láng giềng”. Bắc Kinh luôn nói rằng họ không bao giờ gây sức ép về chính trị và kinh tế thông qua viện trợ vật chất và quân sự khổng lồ cho Hà Nội, nhưng họ lại muốn Hà Nội phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Trung Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực và trên thế giới. Thái độ này của Trung Quốc đã khiến Việt Nam, một quốc gia rất nhạy cảm với quá khứ đầy rẫy những rắc rối với Trung Hoa, trở nên tức giận. Mặc dầu có lúc Bắc Kinh và Hà Nội gọi nhau là “những người đồng chí anh em” nhưng sự thật thì mối ác cảm của người Việt Nam đối với Trung Quốc đã được Bắc Kinh nhận thức một cách rõ ràng

Một tài liệu của Trung Quốc đề cập đến chiến tranh 1979 đã ghi lại những hoạt động được coi là thù nghịch của Việt Nam từ sau năm 1975 đã làm tổn thương mạnh đến quan niệm bề trên của người Trung Quốc. Bộ Chính Trị Việt Nam đã thông qua một chính sách coi đế quốc Mỹ là kẻ thù lâu dài nhưng lại coi Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp nhất”, và là “kẻ thù tiềm năng mới” mà Việt Nam phải chuẩn bị để chiến đấu. Trong một phản ứng với Trung Quốc, Chủ nhiệm tổng cục chính trị của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã nhấn mạnh rằng các lực lượng vũ trang Việt Nam sẽ phải tiến hành một cuộc tổng tiến công quân Trung Quốc, chủ động tấn công và phản công đánh đuổi kẻ thù bên trong và thậm chí cả bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, và biến cả miền biên giới thành mặt trận chống Tàu. Thái độ coi thường của Việt Nam đối với QGPND và sự cả tin vào sức mạnh quân sự của mình đã là chất xúc tác thúc đẩy quân đội Trung Quốc tiến hành chiến tranh. Lực lượng chiến đấu đã được tôi luyện của QĐND Việt Nam đã tham gia tác chiến hầu như liên tục trong nhiều thập kỷ và đã chiến thắng được hai cường quốc lớn phương Tây. Trong khi đó các chuyên gia Việt Nam cho rằng khả năng và tinh thần chiến đấu của QGPND là thấp kém và hạn chế. QĐND Việt Nam rất tự hào với vũ khí của Nga và các trang thiết bị quân sự thu hồi của Mỹ. Theo các hãng truyền thông của Việt Nam các vũ khí đó hơn hẳn với bất kỳ trang bị nào của QGPND.

Trong hơn hai mươi năm Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Khi Việt Nam bắt đầu ép buộc người Hoa ở miền bắc hồi cư và gia tăng bạo lực trên biên giới với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc đã cho rằng Hà Nội vong ơn bội nghĩa trước những giúp đỡ và hy sinh của Trung Quốc. Những người Trung Quốc đã từng giúp đỡ những người cộng sản Việt Nam trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ đã cảm thấy như bị phản bội và đã hăm hở để “dạy cho Việt Nam bài học”. Trong số đó có Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng và là tổng tham mưu trưởng QGPND. Họ Đặng đã tỏ ra bực mình với thái độ khiếm nhã của Việt Nam đối với những giúp đỡ của Trung Quốc đã được sử sách ghi chép từ giữa những năm 1960. Sự thù nghịch giữa hai nước đã tăng mạnh vào cuối những năm 1970, và ngày càng trở nên nhạy cảm, thậm chí đã có lúc Việt Nam được Trung Quốc gọi là đồ khốn nạn (wangbadan) trước một nhà lãnh đạo nước ngoài. Các nhà lý luận quân sự nói chung đều nhất trí rằng tình trạng “thù nghịch ở cả hai phía, giận dữ và căm thù đã hình thành và ngày càng sôi sục”. Sự láo xược của Việt Nam thể hiện qua những va chạm dọc biên giới mỗi ngày một tăng và sự ra đi ồ ạt của Hoa kiều đã tác động mạnh lên quyết định dùng vũ lực của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự.

Động thái của Trung Quốc trước cuộc tấn công

Vẫn chưa có những tài liệu chắc chắn nào cho thấy lúc nào và như thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định tiến hành chiến tranh chống Việt Nam. Nayan Chanda, phóng viên Đông Nam Á kỳ cựu của Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông đã chỉ đưa ra được vài chi tiết cho rằng cấp lãnh đạo Trung Quốc đã ra quyết định “dạy cho Việt Nam bài học” vì thái độ “vô ơn và ngạo mạn” trong một cuộc họp Bộ Chính Trị hàng tuần vào đầu tháng Bảy năm 1978. Tuy nhiên ông ta lại cho rằng trong cuộc họp đó cấp lãnh đạo Trung Quốc, khi thông qua quyết định tấn công Việt Nam, có vẻ như họ đã được thuyết phục rằng việc này chỉ để nhằm “làm suy yếu vị thế của Xô-viết trong thế giới thứ ba”. Các nguồn tin mới đây từ Trung Quốc thì lại giả thiết rằng sự tính toán đến các phản ứng quân sự đối với cuộc khủng hoảng giữa Việt Nam và Trung Quốc là một quá trình hết sức chậm chạp vì khá lâu sau đó cũng không có một quyết định nào được thông qua. Hơn nữa, cuộc chiến khởi đầu được coi như là một xung đột cục bộ giữa hai nước chứ không phải là một phần của chiến lược chống bá quyền toàn cầu của Trung Quốc. Trong những năm đầu của thời kỳ hậu Mao, Bắc Kinh áp dụng chính sách lãnh đạo thừa kế. Chính sách lãnh đạo thừa kế này liên quan đến việc gia hạn năm công tác với chức năng tư vấn không chính thức cho các lãnh tụ cao cấp và các cấp thấp hơn như các viên chức chính phủ và sĩ quan quân đội để họ đảm nhận các vấn đề trước khi có quyết định cuối cùng.

Châu Đức Lễ (Zhou Deli), tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, kể lại rằng vào tháng Chín năm 1978 đã có một cuộc họp được tổ chức trong bộ tổng tham mưu QGPND bàn về vấn đề “làm sao đối phó với nạn xâm chiếm lãnh thổ của quân đội Việt Nam”. Mối quan tâm ban đầu là vấn đề xung đột biên giới. Vấn đề này lúc đó đã được coi như nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng ngày càng gia tăng giữa hai nước từ năm 1976. 

Một đề xuất sơ bộ đề nghị tiến hành một chiến dịch quy mô nhỏ nhằm vào một trung đoàn bộ đội địa phương thuộc huyện Trùng Khánh của Việt Nam nằm sát đường biên giới với tỉnh Quảng Tây. Tuy nhiên, sau khi một báo cáo của tình báo cho biết cuộc xâm lăng Campuchia của Việt Nam sắp xảy ra thì đa số người tham gia đều đồng ý rằng bất kỳ một hành động quân sự nào được tiến hành cũng đều phải gây được ảnh hưởng đáng kể với Hà Nội và tình hình ở Đông Nam Á. Mọi người đều khuyến cáo phải tiến công vào các đơn vị quân đội chính quy của Việt Nam trên một địa hình rộng lớn. Mặc dầu cuộc họp kết thúc mà không đưa ra bất cứ quyết định cụ thể nào nhưng nó đã cho thấy hình hài của một kế hoạch chiến tranh có thể xảy ra của Trung Quốc nhằm vào Hà Nội và có thể nó là những bằng chứng đầu tiên có liên quan đến những hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biên giới phía bắc của Việt Nam nhằm tạo áp lực lên thái độ được coi là hiếu chiến của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, một chiến dịch quân sự quy mô lớn có thể làm xấu đi hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế trong khu vực lẫn thế giới. Họ Đặng đã lập kế hoạch thăm chính thức Thái Lan, Mã Lai và Sinh-ga-po vào đầu tháng 11 năm 1978 nhằm dò xét và tìm sự hậu thuẫn của các nước này đối với chính sách của Trung Quốc lên Việt Nam. Trong chuyến thăm viếng, Đặng đã thuyết phục các nước chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chống lại sự xâm lược của Việt Nam nếu nước này tấn công Campuchia. Trong nước, các phương tiện truyền thông đều đăng xã luận và bình luận về việc trừng phạt sự xâm lăng của Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và cảnh báo về một sự trả đũa có thể xảy ra.

Ngày 23 tháng 11 năm 1978, Bộ Tổng Tham Mưu Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp khác. Tại đây một kịch bản mới về chiến tranh đã được bàn bạc kỹ lưỡng. Sau khi cân nhắc các khuyến cáo trước đó, Bộ Tổng Tham Mưu đã quyết định mở rộng quy mô và thời gian của chiến dịch. Các kế hoạch đã nhằm vào các vị trí quân sự chính của Việt Nam và các thành phố bên kia biên giới của Vân Nam và Quảng Tây như các mục tiêu cần tấn công, ngăn chặn nhằm làm nhụt ý chí xâm lược của Việt Nam. Có một số ý kiến cho rằng các chiến dịch như thế không đủ rộng lớn vì mới chỉ đến các vùng hẻo lánh và không đủ sức răn đe tức thời Hà Nội. Tuy nhiên cuối cùng không có sự phản đối vì họ cho rằng ban lãnh đạo Trung ương đã cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề. Cuộc họp chỉ định hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh sẽ thực hiện chiến dịch này. Ngoài ra cuộc họp cũng khuyến cáo về việc chuyển giao một lực lượng dự bị chiến lược QGPND bao gồm 4 quân đoàn và 1 sư đoàn lấy từ quân khu Vũ Hán và Thành Đô để củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.

 Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp, kéo dài khoảng 4 đến 5 giờ và quyết định phát động một cuộc chiến tranh hạn chế trên tuyến biên giới phía nam Trung Quốc để “giáng trả” Việt Nam. Ngày kế tiếp là việc chỉ thị cho hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch quân sự này với các đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu từ ngày 10 tháng Giêng năm 1979. Chỉ thị này nêu rõ cuộc chiến tranh được hạn chế nghiêm ngặt trong vòng bán kính 50km từ đường biên giới và kéo dài trong 2 tuần. Binh pháp truyền thống của QGPND đã được nhấn mạnh đó là việc dùng hai đội quân nhằm “Tập trung biển người để bao vây quân địch từ hai bên sườn nhằm tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng những trận đánh hủy diệt theo phương thức đánh nhanh rút gọn”. Tuy thời điểm cho mệnh lệnh này được hiểu là Trung Quốc phản ứng lại với sự xâm lăng Campuchia sắp xảy ra của Việt Nam, nhưng bằng cách dựng lên một chiến dịch quân sự lớn thậm chí trước khi quân đội Việt Nam vượt sông Mê-kông cũng đã thể hiện sự giận dữ từ nhiều năm do thái độ vô ơn của Việt Nam gây nên.

Đặng Tiểu Bình ra quyết định

Mặc dầu cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc đã được khởi động từ đầu tháng 12 năm 1978, nhưng ngày tấn công chính xác vẫn chưa được ấn định. Những nghiên cứu ban đầu đã suy diễn rằng quyết định tấn công của Bắc Kinh đã xuất hiện từ Hội Nghị Công Tác Trung Ương vào khoảng 10 tháng 11 đến 15 tháng 12 năm 1978. Thực tế, cuộc họp này đã kêu gọi xem xét một nghị trình cải cách kinh tế trong vòng 10 năm, chấm dứt việc đề cập đến những di sản của Cách Mạng Văn Hóa. Đến nay vẫn chưa được biết là đã có cuộc thảo luận quan trọng về tình hình Đông Dương hay không. Tuy thế, cuộc họp đã củng cố vị trí của họ Đặng trong ban lãnh đạo, cho phép ông ta, dù chỉ là một trong năm phó chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nhưng kiêm chức Tổng tham mưu trưởng quân đội, trở thành người ra quyết định về vấn đề Việt Nam.

Trong cuộc họp Quân ủy Trung ương vào trước đầu năm Dương lịch, họ Đặng đã chính thức đề xuất một cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam. Tất cả những người tham gia cuộc họp bao gồm cả chủ tịch ĐCSTQ Hoa Quốc Phong, theo như báo chí đã đưa tin, cũng ủng hộ đề xuất này. Cũng tại cuộc họp này Đặng đã chỉ định Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou) làm chỉ huy chiến dịch ở đông Quảng Tây và Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), tư lệnh quân khu Vũ Hán, chỉ huy ở miền tây Vân Nam, không dùng Vương Tất Thành (Wang Bicheng), tư lệnh quân khu Côn Minh. Để đáp ứng với việc thay đổi các cấp chỉ huy chiến trường, Đặng đã cử hai phó tổng tham mưu trưởng của ông ta đến Côn Minh để giám sát việc chuyển giao quyền lực và chuẩn bị chiến tranh. Không có một bộ tư lệnh trung tâm, hai quân khu sẽ tiến hành chiến đấu một cách độc lập không có phối hợp hoặc hiệp đồng. Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc tấn công phải được tiến hành chớp nhoáng và tất cả các đơn vị phải rút về sau khi đạt được mục tiêu của chiến dịch.

Các tài liệu hiện nay đều đưa ra giả thiết là có một vài lãnh tụ Trung Quốc đã phản đối việc tấn công Việt Nam, nhưng các tài liệu đó đã không thống nhất được là những lãnh tụ nào đã phản đối và phản đối theo hình thức nào. Khi Đặng đã là kiến trúc sư trưởng của kịch bản thì khó có ai dám thách thức được quyết định của ông ta, một con người đầy uy tín cũng như thâm niên trong đảng. Kiểm soát được Bộ Tổng Tham Mưu Đặng đã có được các phương tiện thuận lợi nhất để thúc cỗ máy chiến tranh của Trung Quốc vận hành trước khi ban lãnh đạo Trung ương đưa ra một quyết định chính thức. Hành động giống như Mao, Đặng đã tham khảo ý kiến của các đồng sự tin cậy trong chỗ riêng tư trước khi ra quyết định và sau đó chỉ thực hiện quyết định khi đã có sự tán thành của Bộ Chính Trị. Một trong những đồng sự gần gũi nhất của Đặng là Trần Vân (Chen Yun), một phó chủ tịch khác của ĐCSTQ và cán bộ trung kiên của đảng, đã có những đóng góp quan trọng cho quyết định tấn công Việt Nam.

Có một số quan tâm hàng đầu trong Bộ Chính Trị: liệu Liên Xô có phản ứng bằng cách tấn công từ phía bắc khiến quân đội Trung Quốc phải chiến đấu trên hai mặt trận; liệu Liên Xô có nhân cơ hội để trục lợi từ tình hình chăng? Thế giới sẽ phản ứng lại thế nào? Và liệu chiến tranh với Việt Nam có làm trở ngại đến nghị trình mới của Trung Quốc là hiện đại hóa nền kinh tế? Mối lo lớn nhất là phản ứng của Liên Xô. Theo các phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu, Matx-cơ-va có thể sẽ tung ra 3 chiến dịch quân sự nhằm đáp trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc và Việt Nam: một cuộc đột kích quân sự lớn bao gồm cả tấn công trực diện vào thủ đô Bắc Kinh; xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số có vũ trang đang lưu vong ở Liên Xô quay về tấn công vào các tiền đồn Trung Quốc ở Tân Cương (Xinjiang) và Nội Mông (Inner Mongolia); hoặc sử dụng các cuộc giao tranh nhỏ gây ra sự căng thẳng biên giới giữa hai nước. Tuy nhiên, khi mà Liên Xô chưa có lực lượng đầy đủ để tiến hành bất cứ các hoạt động quân sự lớn nào chống lại Trung Quốc một cách ngay lập tức thì các lãnh tụ đảng, đặc biệt là Đặng, đã tin rằng một cuộc chiến tranh vào Việt Nam chớp nhoáng, có giới hạn, và mang tính tự vệ sẽ không kích thích đủ sự can thiệp của Matx-cơ-va hay một làn sóng phản đối quốc tế nào. Hai cuộc xung đột biên giới trước đó với Ấn Độ (1962) và Liên Xô (1969) đã minh chứng cho lập luận này. Ý định về một cuộc chiến tranh nhanh gọn cũng đã thuyết phục được một số phản đối trong nội bộ và biện hộ cho sự lựa chọn chính sách của Bắc Kinh. Tuy nhiên các lãnh tụ Trung Quốc cũng không dám lơ là cảnh giác bằng cách đồng thời ra lệnh cho các đơn vị quân đội ở các quân khu miền bắc và tây bắc luôn ở vào tư thế sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp Liên Xô tấn công.

Cuộc họp vào ngày lễ Giáng Sinh đã quyết định hoãn lại thời điểm tấn công Việt Nam. Các nhà phân tích phương Tây đã cho rằng lý do Bắc Kinh vẫn còn đắn đo là vì lo sợ phản ứng quốc tế. Chuyến công du nằm trong kế hoạch của Đặng đến Mỹ và Nhật đã được thu xếp để “thăm dò phản ứng dư luận”. Tuy nhiên những đồng sự thân cận của Đặng đã cho rằng ngay cả những sự chống đối của quốc tế, nếu có, cũng không ngăn cản được ông ta vì Đặng chưa bao giờ nhân nhượng bất cứ điều gì một khi ông ta đã quyết. Các lãnh tụ Trung Quốc cũng rất lo lắng vì không biết lực lượng của họ có đủ thời gian để chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến tranh hay không. Binh lính Trung Quốc chưa tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh lâu dài nào, trong khi nhiều người trong quân đội không thể hiểu được vì sao cuộc chiến sắp xảy ra lại nhằm vào một đồng minh truyền thống và là một quốc gia láng giềng nhỏ bé. Không lâu sau cuộc họp lễ Giáng Sinh, Đặng đã cử Dương Dũng (Yang Yong), tổng tham mưu phó, và Trương Chấn (Zhang Zhen), chủ nhiệm tổng cục hậu cần lần lượt đến Vân Nam và Quảng Tây để thị sát điều kiện chiến đấu của bộ đội. Lo sợ binh lính chưa sẵn sàng chiến đấu, Trương đã lập tức đề nghị hoãn cuộc chiến lại một tháng. Sau này ông ta có kể lại rằng Quân ủy Trung ương đã đồng ý để lùi thời gian tấn công lại đến giữa tháng Hai. Dương đã làm một báo cáo trong đó có những đề xuất về kế hoạch cho chiến tranh, để trình bày ngày 22 tháng Giêng tại tư gia của họ Đặng trước sự hiện diện của các lãnh tụ chủ chốt của Quân ủy Trung ương. Có thể trong cuộc họp này các lãnh tụ Trung Quốc đã tái khẳng định quyết định tấn công của họ và định ra một khung thời gian cho “ngày N”. Ngày tiếp theo, Bộ Tổng Tham Mưu lại tổ chức một cuộc họp khác, tại đây kế hoạch chiến tranh được thông qua lần cuối và quân đội được lệnh sẵn sàng khởi sự vào ngày 12 tháng Hai. Để đề phòng tình hình có thể vượt ngoài tầm kiểm soát, ban lãnh đạo Trung ương đã yêu cầu Hứa Thế Hữu phải dừng ngay các chiến dịch quân sự và rút lui ngay khi quân đội của ông ta chiếm được Lạng Sơn và Cao Bằng là hai thành phố chính

của Việt Nam nằm gần biên giới.

Ngày 11 tháng Hai 1979, hai ngày sau khi Đặng trở về Bắc Kinh từ chuyến đi Mỹ và Nhật, cuộc họp Bộ Chính Trị mở rộng đã được triệu tập. Đặng trình bày rõ ràng lý do căn bản để đánh Việt Nam, và sau đó mệnh lệnh phát động cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng Hai năm 1979 đã được gửi tới các tư lệnh quân khu Quảng Tây và Vân Nam. Đây là ngày họp mà các thành phần không phải chủ chốt được tham dự lâu trong đó một số lý lẽ được đưa đẩy rằng thời điểm tấn công có thể liên quan mật thiết đến yếu tố thời tiết: vào mùa mưa, thường từ tháng Tư trở đi, nó có thể bất lợi cho việc tiến hành các chiến dịch quân sự, hoặc nếu tấn công sớm quá thì quân đội Liên Xô có thể dễ dàng vượt qua những con sông dọc biên giới Trung-Xô khi đó đang còn đóng băng. Đặng và các lãnh tụ khác đã tính toán một cách cẩn thận tất cả các khả năng có thể có một khi quân đội của họ đã vượt qua biên giới Việt Nam. Họ đã giới hạn phạm vi, thời gian, và không gian cho một cuộc chiến tranh đã được gắn cái tên là “cuộc phản công tự vệ” để cố gắng giảm thiểu những phản ứng tiêu cực từ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, khi chiến tranh đã nổ ra, Đặng vẫn theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến xảy ra, vẫn ban hành những chỉ thị và mệnh lệnh đặc biệt (điều này khác hẳn với phong cách lãnh tụ của Mao).

Gerald Segal (tác giả cuốn Trung Hoa tự vệ-ND) cho rằng động cơ đầu tiên của Trung Quốc khi tấn công Việt Nam là nhằm ngăn chặn tham vọng và ý đồ xâm lăng Đông Nam Á cùng với mối đe dọa của Việt Nam đang nhằm vào an ninh của Trung Quốc, lật tẩy sự nhu nhược của Liên Xô. Nhưng tính toán chính trị sai lầm đã cho thấy rằng các lãnh tụ Trung Quốc đã đặt chính họ vào thế khó khăn khi xây dựng một chiến lược trừng phạt Việt Nam mà không bao giờ có cơ hội thành công. Ý đồ đã được tuyên bố của Trung Quốc là “dạy cho Việt Nam bài học” đã biến mục tiêu hàng đầu của cuộc chiến tranh thành một “hành động trả thù”. Từ đầu, Bắc Kinh đã giới hạn mục đích và chỉ đạo để cuộc chiến không vượt quá giới hạn của một cuộc xung đột biên giới tay đôi. Bộ chỉ huy quân sự ở Quảng Châu và Côn Minh được yêu cầu phải xây dựng các chiến lược tác chiến sao cho không chỉ hoàn thành mục tiêu là trừng phạt mà còn phải giới hạn chiến sự về thời gian lẫn không gian.

Câu hỏi thực tế cho những người lập kế hoạch quân sự Trung Quốc địa phương là đến chừng mực nào thì mục tiêu dạy cho Việt Nam bài học mới đạt được và đo lường được. Phương thức tác chiến thông thường của QGPND luôn luôn tạo nên một áp lực đặc biệt trong vấn đề tiêu diệt sinh lực địch (yousheng liliang). Một trong những truyền thống tác chiến của QGPND là chiến thuật biển người để đảm bảo thắng lợi. Khoảng giữa tháng Giêng 1979 hơn một phần tư quân đội thường trực của QGPND đã được đưa đến biên giới Trung-Việt, tổng cộng khoảng hơn 320.000. Theo kinh nghiệm chiến đấu của mình và dựa trên các bài bản chiến thuật của QGPND trong quá khứ, Hứa Thế Hữu đã trả lời những yêu cầu chiến tranh của ban lãnh đạo Trung ương bằng một chiến thuật gọi là niudao shaji (ngưu đao sát kê – dùng dao mổ trâu để cắt tiết con gà). Nguyên tắc chủ đạo khi giao chiến gồm ba điểm: tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng không phải điểm mạnh của quân địch; sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan hàng phòng ngự của địch tại những những điểm mấu chốt; các đơn vị xung kích phải hết sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công tất cả các con đường dẫn đến sào huyệt kẻ thù. Theo cách này Hứa tin rằng quân đội của ông ta có thể cắt nhỏ hệ thống phòng thủ của Việt Nam thành từng mảnh, đập tan mọi sự kháng cự, và sau đó tiêu diệt hết quân địch.

Theo tinh thần và chiến thuật đó, các quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã xây dựng những kế hoạch tác chiến riêng của họ trong đó nhấn mạnh đến việc tiêu diệt các sư đoàn quân chính quy của Việt Nam dọc biên giới Trung-Việt. Chiến tranh có thể chia thành hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, hai mũi nhọn tấn công và Cao Bằng và Lào Cai nhằm bao vây và tiêu diệt các sư đoàn của quân đội Việt Nam tại đó đồng thời phát động các cuộc tấn công ở Đồng Đăng để ly gián Hà Nội về mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc. Sau đó lực lượng QGPND ở Quảng Tây sẽ tập trung tấn công vào Lạng Sơn trong khi các cánh quân bạn ở Vân Nam sẽ giao chiến với sư đoàn quân Việt Nam ở Sa Pa. Tổng cộng 8 quân đoàn QGPND sẽ đồng thời tham gia tác chiến, một quân đoàn được giữ lại làm lực lượng trừ bị.

Bắc Kinh cũng tính đến khả năng tham chiến của không quân. Không quân của QGPND sẽ cam kết dùng 18 trung đoàn và 6 phi đội tăng phái để chuẩn bị hỗ trợ cho các chiến dịch mặt đất. Để tránh leo thang xung đột, Quân ủy Trung ương ra lệnh không lực chỉ trợ chiến bên trong lãnh thổ Trung Quốc, trong khi đó lại ra lệnh các đơn vị không quân sẵn sàng yểm hộ cho các chiến dịch dưới đất “nếu cần”, mặc dầu không đưa ra định nghĩa chính thức tình hình thế nào và bao giờ được coi là “cần”. Mệnh lệnh đã quy định rằng bất cứ chiến dịch nào bên ngoài không phận Trung Quốc đều phải được phép của Quân ủy Trung ương. Dựa trên những nguyên tắc này, một chiến lược yêu cầu các đơn vị không quân sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ vùng trời và yểm trợ cho mặt đất. Khi chiến dịch dưới đất bắt đầu, cùng lúc không quân được lệnh xuất kích với tần suất cao trên không phận biên giới nhằm ngăn chặn không quân Việt Nam tham chiến. Nhân viên kiểm soát và điều hành hàng không cũng như các nhóm chỉ huy tác chiến đã được cử đến sở chỉ huy tiền phương của hai quân khu ở Quảng Châu và Côn Minh, các chỉ huy của các đơn vị không quân và một vài đơn vị phục vụ mặt đất cũng sẽ tham gia vào nhiệm vụ tấn công chính

Từ cuối tháng 12 năm 1978 đến hết tháng Giêng năm 1979 binh lính Trung Quốc bị cuốn hút vào các hoạt động huấn luyện chiến đấu và diễn tập. Vì trước đó hầu hết quân đội Trung Quốc chỉ tham gia vào sản xuất nông nghiệp trong một thời gian dài, những nỗ lực điên rồ vào giờ phút cận kề như vậy, dù là có ích, chắc chắn cũng không thể đủ được. Huấn luyện quân sự được tập trung nhiều vào những kỹ năng cơ bản của người lính như bắn, ném lựu đạn. Chỉ một vài đơn vị có khả năng tiến hành các cuộc huấn luyện có ý nghĩa về chiến thuật hoặc diễn tập cấp trung đoàn hoặc sư đoàn. Nhiều sĩ quan báo cáo rằng họ không thể đảm bảo các binh sĩ của họ có khả năng tác chiến. Việc các đơn vị bộ đội của QGPND chỉ được huấn luyện một cách sơ sài và không đầy đủ cho một cuộc chiến tranh hiện đại nhằm vào quân đội Việt Nam, những người đã có 25 năm kinh nghiệm chiến đấu trước khi có cuộc chiến tranh này dường như không được giới lãnh đạo Trung Quốc quan tâm.

Mặc dầu nhu cầu huấn luyện là cấp bách, nhưng QGPND vẫn tiếp tục với truyền thống quân sự của mình là sử dụng học thuyết chính trị để nâng cao tinh thần và để cải thiện hiệu năng chiến đấu. Cỗ máy tuyên truyền đã được thiết lập để thuyết phục binh lính rằng quyết định của ban lãnh đạo Trung ương là cần thiết và đúng đắn. Việt Nam đã thay đổi một cách xấu xa trở thành “Cuba ở phương đông”, tên “côn đồ ở châu Á” và “chó săn của Liên Xô”, đang cố theo đuổi tham vọng bành trướng. Chủ thuyết chính trị của Mác, mặc dầu được cả hai nước suy tụng cũng không ngăn cản được việc Trung Quốc phát động một cuộc “chiến tranh tự vệ” chống lại quốc gia làng giềng nhỏ bé một khi quyền lợi dân tộc tối cao bị đe dọa. Các bài giảng, các cuộc họp quy tội Việt Nam với các bằng chứng, hiện vật, cũng như tranh ảnh được trưng bày nhằm gia tăng chủ nghĩa yêu nước và lòng căm thù kẻ địch. Ít nhất người ta cũng đã đưa ra một cách giải thích nghe có vẻ có lý cho những người lính bình thường, ít học về lý do tại sao lại cần phát động cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, một đất nước từ lâu đã là anh em, đồng chí.

Chiến dịch quân sự

Cuộc tấn công được gọi là tự vệ của QGPND được tiến hành trong 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu từ 17 đến 25 tháng Hai. Trong thời gian đó quân đội Trung Quốc theo dự tính sẽ đập tan tuyến phòng ngự đầu tiên của Việt Nam và đánh chiếm các thị xã Cao Bằng và Lào Cai, các thị trấn biên giới quan trọng là Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ ra vào Lạng Sơn. Giai đoạn hai từ 26 tháng Hai đến 5 tháng Ba là chiến dịch đánh Lạng Sơn và các vùng phụ cận phía tây, vùng Tây Bắc Sa Pa, và Phong Thổ. Giai đoạn cuối là nỗ lực bổ sung để dẹp yên các lực lượng địch còn sót lại trong quá trình phá hủy hệ thống quân sự tại khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi hoàn thành việc rút quân vào ngày 16 tháng Ba. Các chiến dịch quân sự đã được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới kéo dài đến 900 km từ đông sang tây. Trong 30 ngày, quân Trung Quốc đã tiến hành những trận đánh đẫm máu nhất kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Cuộc tấn công của Trung Quốc đã khiến Hà Nội bất ngờ. Tình báo Việt Nam dường như thất bại trong việc giúp ban lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị trước cho cuộc xâm lược của Trung Quốc. Mặc dầu màn giễu võ dương oai (saber-rattling) của Bắc Kinh đã có từ trước đó vài tháng, nhưng lãnh đạo Việt Nam cũng không thể tin nổi “một nước Xã hội Chủ nghĩa anh em” lại có thể đi xâm lược mình. Khi một số lượng lớn quân Trung Quốc đã vượt qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng còn đang ở Phnom Pênh. Mức độ dàn trải của chiến dịch của QGPND cũng đã đánh lừa được Bộ Tư Lệnh tối cao của quân đội Việt Nam trong việc nhận dạng các mũi nhọn và mục tiêu thực của cuộc tấn công. Trong lúc yêu cầu cấp bách Matx-cơ-va thực thi nghĩa vụ theo hiệp ước hữu nghị và hợp tác mới ký giữa hai nước, phản ứng tức thời của Hà Nội là “để đáp trả ngay lập tức, sử dụng bất cứ sự kháng cự nào nhằm làm giảm ưu thế của quân Trung Quốc” Các trận đánh quan trọng đã xảy ra xung quanh các thị trấn biên giới như Sóc Giàng, Đồng Hệ, Đồng Đăng, Cao Bằng, Lào Cai và Cam Đường, qua việc tranh giành từng ngọn đồi từng căn hầm. Cả hai bên đều thể hiện ý chí quyết liệt tiến công và phản công mặc cho thương vong nặng nề. Vào ngày 20 tháng Hai, cố vấn Liên Xô đã kết luận rằng lực lượng phòng thủ dân quân tự vệ của Việt Nam sẽ không thể ngăn chặn được bước tiến của quân Trung Quốc. Đã có một khuyến cáo thiết lập cầu hàng không để chuyên chở ngay lập tức 30 000 quân từ Campuchia về để tăng cường cho tuyến phòng thủ Lạng Sơn và Hà Nội. Theo tài liệu của Xô Viết các cố vấn của họ đã có những nỗ lực phi thường để tìm và thuyết phục các lãnh tụ Việt Nam có những biện pháp đối phó cấp bách với tình hình. Không hiểu mục tiêu chiến tranh của Bắc Kinh, Hà Nội đã có những phản ứng hết sức chậm chạp đối với những diễn biến nhanh chóng trên chiến trường.

Mặc dầu QGPND đã chọc thủng phòng tuyến ngay từ đầu nhưng địa hình, đặc biệt là thiếu đường sá, cộng với sự kháng cự quyết liệt của quân chính quy, các đơn vị biên phòng, bộ đội địa phương Việt Nam nên quân Trung Quốc đã bị rơi vào thế bị động. Chính tình trạng này đã bộc lộ những điểm yếu và thiếu khả năng của quân Trung Quốc trong chỉ huy tác chiến, liên lạc và hậu cần bắt nguồn từ truyền thống binh pháp của QGPND. Trong một vài trường hợp, các chỉ huy mặt trận Trung Quốc đã thúc giục sự yểm trợ của không quân khi các giao tranh dưới mặt đất gặp sự kháng cự quyết liệt của quân đội Việt Nam. Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã không cho phép, thay vào đó là mệnh lệnh cho hải dựa vào sự hỗ trợ hỏa lực của pháo binh. QGPND cùng với những tướng lĩnh của nó được sinh trong một thể chế truyền thống, chỉ quen với tiền pháo hậu xung và biển người. Khẩu hiệu “Tinh thần của lưỡi lê” (The spirit of the bayonet) lại tiếp tục được đề cao. Kết quả cho thấy cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 là một cuộc chiến tranh đẫm máu và tàn bạo.

Thành công của cuộc chiến tranh trừng phạt của QGPND phụ thuộc vào các chiến thuật xâm nhập, tấn công sườn và bao vây Cao Bằng. Tuy nhiên, hai sư đoàn đột kích thọc sâu đã không hoàn thành được dự định trong vòng 24 giờ. Địa hình núi non, với những cánh rừng rậm rạp lại không có đường và bị bộ đội địa phương và dân quân du kích Việt Nam phục kích đã khiến cho quân Trung Quốc gặp khó khăn không ngờ. Vì sự chậm trễ này mà Hứa Thế Hữu đã quyết định quay lại lập tức tấn công Cao Bằng, mặc dầu một quân đoàn của phó tư lệnh Ngô Trung (Wu Zhong) đã áp sát thành phố từ phía đông và phía nam. Tuy nhiên, do một cuộc điều tra về lý lịch chính trị trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa đang tiến hành, Vũ đã bị cách chức chỉ huy vào khoảng thời gian giữa chiến dịch. Qua đường dây nói, ngày 20 tháng 2, 1979, Hứa đã khẳng định lại việc bổ nhiệm trước đó rằng chiến dịch vẫn sẽ tiếp tục dưới sự chỉ huy của một cấp phó khác của ông thay vì dưới quyền chỉ huy của họ Ngô, thậm chí sau đó và quân đoàn ông ta vẫn chiến đấu theo đường của họ để tới Cao Bằng từ phía bắc. Ba ngày sau khi đến nơi, Hứa và các sĩ quan tham mưu của ông ta vẫn không nhận ra rằng chỉ có một số rất ít bộ đội Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ để cơ quan đầu não và chính quyền tỉnh rút lui. Sau đó ông đã ra lệnh tấn công vào thành phố. Chỉ sau vài giờ chiến đấu, quân Trung Quốc đã chiếm được thành phố.

Việc chậm trễ tiếp quản Cao Bằng đã làm đảo lộn kế hoạch ban đầu của QGPND. Kế hoạch này được thiết kế nhằm tìm kiếm những trận giao chiến nhanh chóng và quyết định. Quân đội Việt Nam phân tán thành những toán nhỏ và các đơn vị cỡ trung đội, ẩn trên núi non, rừng rậm và hang động, và tiếp tục phát động các cuộc phản công. Sự kháng cự không hề nao núng của bộ đội và dân quân Việt Nam buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật hoạt động của họ bằng cách chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn để tham gia vào các hoạt động tìm kiếm và tiêu diệt tại Cao Bằng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và các khu vực Quảng Hòa. Các chiến thuật mới bao gồm khóa đường, lùng sục các ngọn đồi, tìm kiếm những hang động, săm soi mặt đất và cho nổ các hầm hào. Giao chiến dữ dội liên tục khiến hàng trăm chiến sĩ Việt Nam và dân thường bị giết. Cho đến ngày 06 Tháng Ba, theo các tài liệu tiếng Việt thu được đã cho thấy, thì dường như sư đoàn QĐND Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ Cao Bằng vẫn chưa bị tiêu diệt. Không tính đến việc chưa hoàn toàn kiểm soát được Cao Bằng, những tổn thất nặng nề của QGPND trong giai đoạn đầu đã cho thấy rằng chiến dịch gặt hái rất ít thành công.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo lắng về tiến triển của cuộc chiến nên hối thúc tư lệnh chiến trường ở Quảng Tây khởi sự càng nhanh càng tốt trận đánh quyết định vào Lạng Sơn, một cửa ngõ làm lá chắn cho Hà Nội từ phía bắc. Dường như không hài lòng với những gì đã xảy ra tại Cao Bằng, họ Hứa đã tổ chức lại kế hoạch tác chiến và kêu gọi binh lính tăng thêm sức chiến đấu trong trận đánh Lạng Sơn. Sáu sư đoàn quân Trung Quốc tham gia vào trận đánh quyết định này, bắt đầu vào ngày 27 tháng hai, được mở màn bằng một trận pháo kích dữ dội. Sau các trận chiến ác liệt, quân Trung Quốc lần đầu tiên kiểm soát chắc chắn được các điểm cao xung quanh và sau đó đánh chiếm phần phía bắc của thành phố vào ngày 02 Tháng Ba, ngày mà theo lịch trình sẽ ngưng các hoạt động quân sự. Do bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại của họ ở Lạng Sơn, Hứa đã quyết định tiếp tục đánh, thúc quân của ông ta vượt sông Kỳ Cùng, là ranh giới phân chia thành phố Lạng Sơn thành các huyện phía Bắc và phía Nam, để đánh chiếm toàn bộ thành phố, và sau đó phát triển xa về phía nam để đe dọa Hà Nội. Mặc dù quyết định của Hứa đã được Bắc Kinh thông qua, nhưng nó đã bị hủy bỏ vào ngày 05 tháng 3, ngay sau khi quân đội Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn, với lý do được tuyên bố là họ đã đạt được các mục tiêu chiến tranh ban đầu.

Đánh giá cuộc chiến tranh của Trung Quốc với Việt Nam

Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 là một hoạt động quân sự lớn nhất mà QGPND đã đề xướng kể từ sau chiến tranh Triều Tiên. Dựa trên chiến lược của Mao là “trong mỗi trận đánh, tập trung một lực lượng tuyệt đối vượt trội so với kẻ thù”, Bắc Kinh đã triển khai chín quân đoàn chính quy cùng với các đơn vị đặc biệt và địa phương, tạo nên một đội quân hơn 300.000, tiến hành cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam trong một tháng. Các đơn vị không quân chiến đấu đã xuất kích 8.500 phi vụ tuần tra vùng trời, trong khi đó các đơn vị vận tải và trực thăng đã xuất kích 228 lần làm nhiệm vụ không vận; Hải quân cử một lực lượng đặc nhiệm (bao gồm hai tàu khu trục tên lửa và ba hải đội tàu trang bị tên lửa và ngư lôi tấn công nhanh) ra đảo Hoàng Sa (Xisha) nhằm đối phó với sự can thiệp của hải quân Liên Xô nếu có. Ngoài ra, Các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam còn huy động hàng chục ngàn dân quân và dân công để hỗ trợ các chiến dịch quân sự. Trong thời gian chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm ba thị xã của Việt Nam và hơn một chục thành phố nhỏ và thị trấn dọc biên giới, họ tuyên bố đã giết và làm bị thương 57.000 bộ đội Việt Nam, đánh thiệt hại nặng bốn sư đoàn quân chính quy và mười trung đoàn trực thuộc khác, cùng với việc chiếm một lượng lớn vũ khí. Bắc Kinh khẳng định rằng cuộc chiến chống Việt Nam 1979 đã kết thúc với thắng lợi thuộc về Trung Quốc.

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ngày nay đều thừa nhận rằng quân Việt Nam “đã trên tay” quân Trung Quốc trên chiến trường vì khả năng tác chiến yếu kém của QGPND và thương vong quá nặng như đã được báo cáo chính thức. Hà Nội cho rằng chỉ có dân quân và các lực lượng địa phương đã tham gia vào cuộc xung đột, và không áp dụng một chiến thuật phòng thủ nào nhưng đã tấn công liên tục chống lại quân xâm lược Trung Quốc. Họ chỉ chịu mất Lạng Sơn và một số thành phố khác sau khi đã gây thương vong và thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Đài Hà Nội vào thời gian đó đã thông báo rằng Việt Nam đã tiêu diệt và làm bị thương 42.000 quân Trung Quốc. Chỉ có một vài tài liệu chính thức của Việt Nam có giá trị cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về hiệu suất chiến đấu và thất bại của họ trong cuộc xung đột, trong khi đó các thông tin được đăng tải bởi các cá nhân trên mạng khi nói về con số tham gia thực tế và thương vong nặng nề của quân chính quy Việt Nam thì trái ngược hoàn toàn. Mặc dù đánh giá lại cuộc chiến Việt Trung năm 1979 mà chỉ dựa trên nguồn thông tin từ Trung Quốc là phiến diện nhưng dầu sao điều này cũng có thể soi sáng một số vấn đề.

Một phương pháp đánh giá cái được cái mất của Trung Quốc là tập trung vào thương vong. Lúc đầu Bắc Kinh thừa nhận là có 20.000 binh sĩ Trung Quốc bị chết hoặc bị thương trong cuộc xung đột biên giới với Việt Nam. Một xu hướng mang tính học thuật hiện nay nghiêng về con số ước tính khoảng 25.000 QGPND thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ và 37.000 người khác bị thương. Gần đây có nguồn từ Trung Quốc đã phân loại thiệt hại của QGPND là 6.900 người chết và 15.000 người bị thương, tổng cộng thương vong là 21.900 thương vong trong một cuộc chiến với hơn 300.000 lính tham chiến. Trong bất cứ trường hợp nào thì thương vong của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh ngắn như vậy là quá cao, điều đó cho thấy một trong những đặc tính cố hữu trong chiến thuật và chiến dịch của QGPND là: sẵn sàng thí quân cho chiến thắng. Lãnh đạo Trung Quốc xem xét thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng khi đánh giá thành công trong quân sự miễn sao họ tin rằng tình hình chiến lược tổng thể nằm trong tầm kiểm soát của họ.

Theo quan điểm của Trung Quốc, cuộc chiến 1979 với Việt Nam là một biện pháp quân sự có tính toán nhằm trả đũa chính sách thù nghịch với Trung Quốc và sự bành trướng của Việt Nam tại Đông Nam Á cũng như tham vọng toàn cầu của Liên Xô. Mặc dù chiến dịch này bộc lộ nhiều điểm yếu của QGPND trong học thuyết quân sự hiện đại và chiến thuật, từ khởi đầu đến kết thúc, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng nắm giữ thế chủ động và nhịp độ của cuộc xung đột. Bắc Kinh đã gây bất ngờ cho Hà Nội không chỉ vì quy mô của chiến dịch, mà còn ở việc rút lui nhanh chóng và không bị sa lầy ở Việt Nam. Trung Quốc cũng đã thành công trong việc tiên liệu đúng phản ứng của Liên Xô qua việc bất lực và thiếu thiện chí đối với Việt Nam. Sự trông cậy vào Liên Xô trong hiệp ước hữu nghị về an ninh rõ ràng là một bài học chua xót cho Việt Nam. Điều quan trọng hơn cả cuộc chiến Việt-Trung 1979 là khởi đầu cho một chính sách của Bắc Kinh làm “chảy máu” Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của Hà Nội ra Đông Nam Á. Việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia sau cuộc tấn công của Trung Quốc là điều lãnh đạo của Trung Quốc mong mỏi nhưng họ không tiên liệu được rằng cuộc triệt thoái đã không diễn ra ngay lập tức mặc cho Trung Quốc tấn công Việt Nam ở phía bắc. Sau này Trung Quốc vẫn thi hành một lựa chọn chiến lược là duy trì áp lực quân sự lên Việt Nam kể cả sự đe dọa liên tục bằng lời nói về một cuộc tấn công thứ hai, và đôi khi tăng cường pháo binh bắn phá và những trận đánh lớn ở biên giới trong hầu hết thập kỷ 1980. Một nghiên cứu đầu thập niên 1990 đã kết luận: “Cuộc chiến tranh đã đạt được thành công nhất định khi nó được xem như một chiến thuật trong chiến lược chiến tranh tiêu hao kéo dài của Trung Quốc”.

Tương tự như thế, cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 đã không để lại hậu quả đáng kể cho Trung Quốc trên trường quốc tế mặc dù việc sử dụng vũ lực quân sự chống lại Việt Nam cũng đã dấy lên những nghi ngờ của Indonesia và Malaysia, những nước luôn cảnh giác với ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Sự chiếm đóng của Việt Nam ở Campuchia đã đe dọa Thái Lan, khiến làn sóng chống đối Việt Nam của các nước ASEAN tiếp tục gia tăng. Về mối quan hệ Trung-Mỹ, cuộc xâm lược trừng phạt Việt Nam của Trung Quốc thể hiện thành công phần nào khi khi Washington vừa công khai lên án cả cuộc xâm lược của Việt Nam vào Campuchia và cả cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam lại vừa chia sẻ mối quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á. Ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất chấp gánh chịu thương vong, đã biến Trung Quốc thành “một bức tường ngăn chặn có giá trị” chủ nghĩa bành trướng Xô-Việt; Washington vào thời điểm đó đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc để cân bằng cán cân với Liên Xô.

Giới lãnh đạo Việt Nam dường như không bao giờ hiểu hết các động thái chiến lược và mục tiêu chiến tranh của Trung Quốc, nhưng lại khăng khăng quan điểm cho rằng cuộc xâm lược năm 1979 đã trở thành màn mở đầu của một kế hoạch xâm lược dài hạn của Bắc Kinh vào chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân ngày 5 tháng 3, Hà Nội kêu gọi tổng động viên toàn quốc cho chiến tranh, thúc đẩy việc xây dựng các vị trí phòng thủ trong và xung quanh Hà Nội. Mặc dù đến cuối tháng 5, quân đội Trung Quốc đã trở lại trạng thái bình thường, Việt Nam vẫn tiếp tục đề phòng, duy trì số lượng lớn của quân đội dọc theo biên giới phía Bắc đối diện với Trung Quốc vào thời điểm mà nền kinh tế của Việt Nam đang “ở trong một tình trạng tồi tệ hơn lúc nào hết kể từ sau năm 1975”. Kết quả là, Hà Nội phải dồn hết nỗ lực cho hai cuộc chiến tranh cùng một lúc, một ở Campuchia và một ở biên giới phía Bắc, dẫn đến một chi phí rất lớn của xã hội và kinh tế quốc gia, thu hút mọi nỗ lực của Hà Nội cần có cho việc hiện đại hóa nền kinh tế, và, quan trọng hơn, làm giảm tham vọng về địa chính trị của họ. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Việt Nam không hề nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình, tiếp tục phụ thuộc vào Liên bang Xô viết cho đến khi nó sụp đổ vào năm 1991. Nếu có bất kỳ bài học mà người Việt Nam cần rút ra từ cuộc chiến 1979 với Trung Quốc, thì đó là Việt Nam, như một vị tướng Việt Nam sau này đã nhận xét, “phải học cách sống chung với anh hàng xóm to lớn”.

Nhắc đến vấn đề tại sao Trung Quốc phải nóng lòng khi sử dụng một lực lượng đã được chuẩn bị sẵn để chống lại Việt Nam vào năm 1979, các phân tích ở đây cũng phù hợp với khẳng định của các nghiên cứu khác là mối lo ngại về tính toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Bắc Kinh, đủ để thúc đẩy QGPND không chỉ trong trách nhiệm bảo vệ mà còn phải tấn công nếu cần. Tranh chấp lãnh thổ và căng thẳng biên giới có vẻ như là yếu tố kích thích để thúc đẩy Bắc Kinh xem xét đến việc sử dụng vũ lực chống lại láng giềng phía nam của họ. Hơn thế nữa, cùng với sự cuồng phát của chủ nghĩa dân tộc đầy cảm tính đã hướng tới việc củng cố thêm tinh thần Đại Hán, theo đó cần phải có một sự trừng phạt nào đó với một đồng minh cũ đã dám phản bội và quay lưng lại với Trung Quốc. Tâm lý này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại một sự đồng thuận rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của Trung Quốc để hỗ trợ Đặng, kẻ đóng vai trò trung tâm trong việc đưa ra các quyết định triển khai quân sự chống lại Việt Nam. Về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, điều luôn luôn làm nảy sinh những phản ứng thái quá của người Trung Quốc, quan điểm quân sự dường như đã trở thành yếu tố kiên quyết trong các quyết định để khởi đầu cho mọi thù địch hiện nay. Hội nghị cán bộ tháng Chín năm 1978, từ việc cung cấp các khuyến cáo cho ban lãnh đạo trung ương để đối phó với tình hình quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Việt Nam, đã là điểm khởi đầu cho một hoạt động quân sự lớn. Các phân tích quân sự về phản ứng có của Liên Xô cũng giúp làm sáng tỏ những lo ngại về rủi ro nếu có. Tuy nhiên, quân đội đã phải hy sinh chính họ cho tham vọng của ban lãnh đạo trung ương. Một khi quyết định đã được đưa ra để thực hiện cuộc xâm lăng trừng phạt Việt Nam, các tướng lĩnh đã hăm hở thực hiện nhiệm vụ của mình với sự thích thú triển khai tối đa lực lượng.

Những bài học được rút tỉa

Bất kể thành công về chiến lược của Trung Quốc như thế nào, một số vấn đề quan trọng vẫn cần được bàn lại. Ví dụ QGPND đã nhận thức thế nào về hiệu năng chiến đấu của họ ở Việt Nam, bài học nào đã rút ra từ chiến dịch, kinh nghiệm này đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của QGPND về tương lai của họ đến mức nào. Là một phần trong truyền thống của QGPND, tất cả các binh sĩ tham gia vào cuộc xung đột đã được lệnh phải viết tóm lược kinh nghiệm chiến đấu của họ. Nhìn lại cuộc chiến, bộ chỉ huy QGPND cũng thấy những mâu thuẫn nội tại. Trong khi tuyên bố rằng Trung Quốc đã giành chiến thắng, họ cũng phải thừa nhận cái giá quá cao mà QGPND đã phải trả. Trong quan điểm của bộ chỉ huy QGPND, ở một chừng mực nào đó cần có đánh giá phần nào khách quan về những yếu kém của QGPND. Tuy nhiên, họ lại e ngại khuynh hướng đánh giá quá cao khả năng và hiệu năng chiến đấu của quân đội Việt Nam. Cùng chiều hướng đó, nên niềm tự hào dân tộc và định kiến văn hóa của họ chắc chắn sẽ ngăn cản họ đưa ra những kết luận thẳng thắn về kinh nghiệm của QGPND trong chiến tranh. Những kinh nghiệm đó có thể được tổng hợp thành sáu chủ đề sau:

Một trong những châm ngôn truyền thống của QGPND là “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cho thấy QGPND quan tâm rất ít đến binh pháp và chiến thuật của QĐND Việt Nam trước khi họ tấn công Việt Nam. Kết quả là, quân đội Trung Quốc đánh giá thấp khả năng chiến đấu của các đối thủ của mình. Có thể từ chỗ lo sợ vì đã tung hô quá nhiều danh tiếng của quân đội Việt Nam, nên tài liệu quân đội QGPND đã kết luận rằng lực lượng chính quy của kẻ địch thiếu kiên trì trong tiến công và phòng ngự và có rất ít các chiến dịch hiệp đồng, nhưng lại thừa nhận rằng chiến thuật kiểu du kích, công binh và dân quân tự vệ của Việt Nam đã thành công đáng kinh ngạc trong việc kìm chân quân Trung Quốc giảm thế cân bằng khi họ lo tìm kiếm những trận đánh quyết định với quân chính quy của QĐND Việt Nam trong một cuộc chiến hạn chế. Một sĩ quan Mỹ khi tổng kết kinh nghiệm của người Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đã ghi nhận rằng không thể “để xâm nhập, vòng sườn, hoặc bao vây” vị trí cố thủ của quân đội Việt Nam “mà không bị thương vong rất nặng”. Chiến thuật của QGPND, thúc thật nhiều bộ binh tấn công xáp lá cà vào vị trí đối phương bất chấp tử vong cao, đã giải thích tại sao Trung Quốc dám khẳng định rằng quân đội Việt Nam không có khả năng trong phòng thủ bảo vệ vị trí của họ.

Những khó khăn bất ngờ trong tác chiến đã khiến người Trung Quốc rút ra bài học thứ hai từ cuộc xung đột liên quan đến tình báo và lập kế hoạch. Thiếu thốn thông tin từ lâu về một đồng minh truyền thống đã là một thách thức lớn cho việc lập kế hoạch chiến tranh và kế hoạch tác chiến của Trung Quốc. Các đánh giá về địa lý và địa hình của miền Bắc Việt Nam của QGPND thường dựa trên các bản đồ và thông tin địa lý đã lỗi thời, trong khi khả năng trinh sát chiến trường lại bị hạn chế. Một trong những sai lầm lớn của quân đội Trung Quốc là đánh giá sai số lượng lực lượng dân quân rất lớn trong dự đoán về sức mạnh quân sự Việt Nam. Kinh nghiệm của QGPND cho thấy, dân quân Việt thể hiện sức đề kháng không hề nao núng và thực hiện các cuộc tấn công bất ngờ hơn vào các quân xâm lược hơn cả bộ đội chính quy QĐND Việt Nam. Lúc đầu các nhà kế hoạch quân sự của QGPND tin rằng họ đã tập hợp được một lực lượng vũ trang vượt trội với tỷ lệ 8:1 để tấn công quân Việt Nam. Nhưng chỉ tính riêng tại khu vực Cao Bằng đã có 40.000 cho đến 50.000 dân quân khiến tỷ lệ lực lượng Trung Quốc chỉ còn hơn Việt Nam là 2:1. Trong suốt chiến dịch, QGPND không bao giờ cho thấy khả năng đè bẹp đối phương bằng mức vượt trội về quân số. Cuộc chiến tranh này còn cho thấy sự khó khăn như thế nào khi thực hiện các chiến dịch quân sự ở nước ngoài nếu dân chúng địa phương được huy động vào việc kháng cự.

Bài học thứ ba là về khả năng chiến đấu của QGPND vì đây là lần đầu tiên Trung Quốc áp dụng tác chiến phối hợp với nhiều binh chủng gồm xe tăng, đại bác, bộ binh cùng với một lực lượng không quân và hải quân yểm trợ. Lạc hậu trong binh pháp và chiến thuật khiến quân đội Trung Quốc không thể phối hợp một cách bài bản trong tác chiến. Trong khi đó ở Bắc Kinh, sự ràng buộc chính trị và tư duy quân sự lạc hậu đã bác bỏ phương án yểm trợ tác chiến của không quân. Các lực lượng mặt đất cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa bộ binh, xe tăng và các đơn vị pháo binh để có thể triển khai việc phối hợp tác chiến sao cho hiệu quả. Một ví dụ rõ ràng là bộ binh đã không bao giờ được huấn luyện kiến thức đầy đủ về phương án tấn công phối hợp với các đơn vị xe tăng. Lính bộ binh, những người bị buộc bằng dây thừng vào tháp pháo xe tăng để khỏi ngã khi hành quân đã bị mắc kẹt khi bị quân địch bắn hạ. Mặt khác, các đơn vị xe tăng thường phải chiến đấu không có bộ binh tháp tùng và thiếu liên lạc trực tiếp giữa hai bên nên đã phải chịu nhiều thiệt hại và tổn thất khôn lường. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh 1979 đã dạy cho QGPND bài học giá trị về kỹ năng phối hợp tác chiến đa binh chủng.

Bài học thứ tư là về hiệu năng chỉ huy và điều khiển mà phần lớn bắt nguồn từ truyền thống và văn hóa của QGPND. Mối quan hệ cá nhân giữa sĩ quan chỉ huy và chiến sĩ, vốn đã được vun trồng trong quá khứ, vẫn tạo nhiều rắc rối trong hàng ngũ QGPND. Khi mà mối quan hệ giữa các cá nhân trở nên quan trọng hơn cả điều lệnh thì chẳng ngạc nhiên khi biết rằng các chỉ huy của Quân Khu Quảng Châu sau này thừa nhận rằng họ cảm thấy khó chịu khi chỉ huy quân sĩ được chuyển từ Quân khu Vũ Hán và Thành Đô đến trong thời gian phục vụ chiến dịch. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng nghe nhiều cấp dưới phàn nàn về phong cách chỉ huy của họ Hứa (Hứa Thế Hữu – ND) vì trước đó ông ta chưa từng chỉ huy họ. QGPND còn gặp khó khăn do nhiều sĩ quan chưa có kinh nghiệm trận mạc. Mặc dù nhiều sĩ quan có cấp bậc cao hơn và có thâm niên chiến đấu đã được cử đến để chỉ huy các đơn vị cấp thấp hơn để giúp đỡ chấp hành mệnh lệnh, nhưng khả năng tác chiến của QGPND vẫn thất bại vì các sĩ quan cấp thấp vẫn còn thiếu khả năng quyết đoán độc lập và phối hợp tác chiến trong những thời điểm quyết định. Tuy nhiên, cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã khai sinh ra một thế hệ mới các cán bộ quân đội Trung Quốc có kinh nghiệm chiến trường, và nhiều người trong số họ hiện nay đang phục vụ tại các vị trí cao cấp của QGPND

QGPND thiếu một hệ thống và cơ cấu cung cấp hậu cần hiện đại, để hỗ trợ cho những chiến dịch quân sự đòi hỏi di chuyển nhanh và ở vùng xa xôi. Các số liệu thống kê cho thấy trung bình mỗi ngày tiêu thụ đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Hoạt động hậu cần là một lĩnh vực lớn để QGPND rút ra bài học. Vì không có đầy đủ dự trữ và phương tiện giao thông vận tải, khiến cả Quân khu Quảng Châu và Côn Minh đã phải đặt dưới cùng một hệ thống cung cấp, mà hệ thống đó chẳng bao giờ hoạt động thông suốt và hiệu quả. Một số lượng đáng kể các nguồn cung cấp bị mất hoặc là do quản lý kém hay bị Việt Nam phá hoại. Khi lực lượng của họ tiến sâu hơn vào lãnh thổ Việt Nam, để bảo vệ mình, các sĩ quan hậu cần đã phải rất khó khăn để giữ liên lạc không bị trệch hướng với đại quân. QGPND đã kết luận rằng cần thiết phải tạo ra bộ chỉ huy về giao thông vận tải để đối phó với các vấn đề mà bộ đội của họ đã phải đối mặt trong chiến dịch. Kinh nghiệm này có vẻ vẫn còn giá trị cho Trung Quốc đến tận hôm nay khi cựu phó chỉ huy của Đại học Quốc phòng QGPND Trung Quốc phát biểu tại một hội nghị chuyên đề về “kiểm soát truyền thông” vào năm 2002.

Bài học cuối cùng là làm thế nào để có thể diễn giải một học thuyết cũ về chiến tranh nhân dân vào các cuộc xung đột diễn ra bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một trong những nguyên tắc của học thuyết chiến tranh nhân dân của Trung Quốc là việc huy động dân thường để hỗ trợ cho chiến tranh. Những kinh nghiệm chiến tranh 1979 đã chỉ ra rằng hầu như không thể đưa một lực lượng khổng lồ QGPND hoạt động ở nước ngoài mà không có sự ủng hộ chiến tranh của nhân dân trong nước. Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã đánh thức lòng yêu nước của công chúng và lòng tự hào về người lính Trung Quốc. Biểu hiện mạnh mẽ của lòng yêu nước đã giúp QGPND nhận được hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động từ người dân sống tại hai tỉnh biên giới. Tại riêng tỉnh Quảng Tây, hơn 215.000 cư dân địa phương đã được huy động để làm người vận chuyển, nhân viên bảo vệ và khuân vác để hỗ trợ tiền tuyến; và hơn 26.000 dân quân từ khu vực biên giới đã thực sự tham gia vào các hoạt động chiến đấu trực tiếp. QGPND vào thời điểm đó chỉ có một hệ thống cung cấp vá víu đòi hỏi các đơn vị phải tự túc hệ thống cung cấp trên chiến trường theo kiểu “hậu cần bán lẻ”. Chính quyền địa phương đã làm mọi việc dễ dàng cho binh lính bằng cách đơn giản hoá thủ tục, giúp họ nhận được đầy đủ vật chất và thực phẩm tươi trong thời gian ngắn nhất có thể. Kinh nghiệm này đã thuyết phục bộ chỉ huy QGPND rằng huy động chính quyền địa phương và dân chúng để hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh vẫn là chìa khóa cho chiến thắng.

Những bài học mà Trung Quốc đã rút tỉa được từ cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể không được liền lạc, thiếu toàn diện và khó mà khách quan vì QGPND không đánh giá sự thành công về chiến dịch quân sự của họ trên cơ sở kết quả tác chiến mà là trên cơ sở các tác động của cuộc xung đột đến tình hình chung. Chịu ảnh hưởng sâu sắc lời dạy của Mao là chiến tranh về cơ bản là một vụ kinh doanh chính trị, miễn là Trung Quốc cho là họ đã thành công trong việc đạt được mục tiêu quân sự và chiến lược đề ra, còn các vấn đề gây ra từ thất bại của chiến thuật chỉ là thứ yếu. Đây cũng là lý do tại sao các bài học đó đã có những khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu của phương Tây nơi mà nhiều thông tin tương đối khả tín, mặc dầu đôi khi vẫn thấy xuất hiện đây đó một chút thái quá do lạm dụng các nguồn tin hạn chế để kết luận về một vấn đề cực kỳ phức tạp. Các nghiên cứu của QGPND nhìn nhận rằng cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) đã tạo bất lợi và hủy hoại những truyền thống tốt đẹp của QGPND, và kết quả là, các lực lượng của Trung Quốc thực hành tác chiến tồi tệ trong chiến tranh. Những bài học rút ra của QGPND đã tập trung nhiều vào cấp độ chiến thuật của chiến tranh với sự nhấn mạnh vào chỉ huy và kiểm soát, phối hợp tác chiến giữa các đơn vị, cơ cấu lực lượng và vũ khí hơn là chiến lược và triết lý mang tính học thuyết. Trong quá trình đánh giá kinh nghiệm chiến tranh 1979, QGPND có vẻ như không tìm cách che đậy hoặc bỏ qua thiếu sót về các hạn chế của họ vào thời điểm đó; tuy nhiên họ đã mắc sai lầm khi không đề cập đến những khiếm khuyết trong tư duy quân sự và binh pháp truyền thống.

Các nghiên cứu của phương Tây đã so sánh những bài học mà QGPND đã rút ra từ cuộc chiến Việt-Trung 1979 với việc đánh giá lại vào năm 1985 của ban lãnh đạo Trung Quốc về bản chất của chiến tranh hiện đại và các mối đe dọa đang rình rập Trung Quốc cộng với những nỗ lực tiếp theo để cải tiến và chuyên nghiệp hóa QGPND trong suốt những năm 1980. Bài học Việt Nam đối với QGPND và những cuộc giao tranh vẫn liên tục xảy ra trên biên giới Trung-Việt trong những năm 1980 đã giúp cho cho ban lãnh đạo Trung Quốc phải thực hiện những cuộc chuyển đổi chiến lược từ việc nhấn mạnh đến sự chuẩn bị cho chiến tranh tổng hợp đến việc chuẩn bị cho chiến tranh cục bộ và chiến tranh hạn chế theo xu hướng của thời gian. Trong quá trình chuyển đổi QGPND thành một lực lượng hiện đại vào những năm 1980, có rất ít những nỗ lực được thực hiện nhằm sửa chữa thiếu sót về tư duy quân sự, đó là thái độ luôn luôn coi nhẹ vai trò của của không quân. Kết quả là, nếu có điều gì còn chưa trung thực trong việc rút kinh nghiệm của QGPND thì đó chính là bài học về ưu thế trên không hoặc yểm trợ không quân. Tài liệu của QGPND vẫn cho rằng việc hạn chế khả năng của lực lượng không quân Trung Quốc là lý do chính khiến không quân Việt Nam không tham gia vào xung đột. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) thậm chí còn nhận xét một cách lố bịch rằng hoạt động giả vờ của không quân Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại Việt Nam là một “đòn nghi binh khéo léo trong tác chiến không quân”. Nhận xét đó rõ ràng cho thấy vẫn còn sai lầm trong giới lãnh đạo Trung Quốc khi họ tiếp tục đánh giá chưa cao vai trò quan trọng của không quân trong chiến tranh hiện đại.

Tuy nhiên, tổng kết các kinh nghiệm của QGPND trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã cung cấp một cái nhìn hữu ích về việc giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc tiếp cận vấn đề chiến tranh và chiến lược như thế nào. Cái nhìn này cũng phù hợp với những phát hiện nằm trong các công trình nghiên cứu gần đây. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thảo luận và tính toán thời điểm và như thế nào khi sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng đã không ngần ngại quyết định khởi chiến khi họ cho rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đang bị hăm doạ hoặc lâm nguy. Thứ hai, QGPND thể hiện quyết tâm giành và giữ thế chủ động tác chiến bằng việc triển khai quân số vượt trội (chiến thuật biển người). Thứ ba, ý thức về chiến thắng quân sự của Trung Quốc đặt nhiều hơn vào việc đánh giá kết quả địa chính trị khi đem so với phê phán về hiệu năng tác chiến trên chiến trường. Kể từ sau cuộc chiến 1979 với Việt Nam, QGPND đã tiến hành sửa đổi sâu rộng trong học thuyết quốc phòng, chỉ huy và điều khiển, chiến thuật tác chiến, và cơ cấu lực lượng, trong khi các hoạt động quân sự thế giới cũng đã chuyển đổi đáng kể từ khi cuộc chiến năm 1979. Ngày nay, không ai nghĩ rằng các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ lặp lại những gì họ đã làm trong chiến tranh biên giới với Việt Nam. Từ góc độ lịch sử, những nét đặc thù của người Trung Quốc đã bộc lộ trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam có thể vẫn còn có giá trị trong các giáo trình của học viện quân sự của Trung Quốc cũng như đối với những người hằng quan tâm đến phương pháp sử dụng sức mạnh quân sự của người Trung Quốc, không chỉ trong quá khứ mà cả với hiện tại và trong tương lai.

Bản dịch của một cộng tác viên, riêng cho tạp chí Thời Đại Mới.

© Thời Đại Mới

Comments (3) »

NGƯỜI CHỦ NHIỆM HÓA HỌC ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN KHU 5

NGƯỜI CHỦ NHIỆM HÓA HỌC ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN KHU 5

QĐND Online – Năm nay đã bước sang tuổi 79, song Đại tá Võ Văn Bảy trông vẫn rất nhanh nhẹn, hoạt bát, đặc biệt là khi hồi tưởng về một thời trai trẻ.

Sinh ra trong cảnh nước nhà bị quân xâm lược dày xéo, mới 15 tuổi, chàng trai xã Phổ Minh (Đức Phổ, Quảng Ngãi) đã tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương và vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay khi còn đang ngồi trên ghế trường phổ thông trung học Lê Khiết (Quảng Ngãi). Tháng 3-1950, ông tình nguyện vào bộ đội. Sau khi tốt nghiệp Trường sĩ quan võ bị Trần Quốc Tuấn – Liên khu 5, ông về làm trung đội phó thuộc Tiểu đoàn 229, Trung đoàn 108 chủ lực Quân khu 5, trực tiếp tham gia đánh 14 trận lớn nhỏ, trong đó có nhiều trận nổi tiếng như Kom Plông, Măng Đen… Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, học chuyên ngành Hóa học và được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm khoa Hóa học Trường sĩ quan lục quân 1, đến tháng 3-1965, về làm Trưởng ban Hóa học Quân khu 5.

Đại tá Võ Văn Bảy

Trước tình hình địch tăng cường rải chất độc phá hoại hoa màu, huỷ hoại môi trường sống, không ngại gian khổ hiểm nguy, ông luôn có mặt kịp thời ở các vùng nhiễm độc, xuống các đơn vị chiến đấu vừa bị tập kích chất độc để tìm ra cách xử lý hiệu quả. Thiếu khí tài phòng hóa tại chỗ, ông cùng đồng đội miệt mài nghiên cứu, chỉ đạo sản xuất mặt chùm phòng độc; may túi và bao phòng độc trang bị cho các đơn vị; tổ chức đốt vỏ dừa, cây xoan làm than lọc khói, khí độc; tận dụng dầu dừa, sun-phát đồng để tiêu độc và dập tắt cháy phốt-pho; không có xe máy thì huy động sức người, cuốc xẻng đào xúc, phủ lấp chất độc… mở đường cho bộ đội tiến công và bám trụ chiến đấu. Đặc biệt, ông đã tham mưu cho Quân khu sử dụng vũ khí đặc chủng hóa học, đưa hàng chục súng phun lửa hạng nặng và hạng nhẹ phối hợp với bộ binh, đặc công đốt cháy nhiều đồn bốt giặc; lấy vũ khí hóa học của địch phủ lên đầu chúng bằng nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo, gây cho kẻ thù những tổn thất nặng nề.

Đất nước thống nhất, ông cùng ngành Hóa học Quân khu tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Cam-pu-chia (làm Phó Tham mưu trưởng Mặt trận 579) và tham gia bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần giữ vững an ninh chính trị-trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Về  hưu từ năm 1987, song ông vẫn chưa ngơi nghỉ, 6 nhiệm kỳ làm Bí thư chi bộ, Chi hội trưởng Chi hội cựu chiến binh khố phố An Thượng I (phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Đặc biệt, ông đã dành nhiều tâm huyết soạn thảo, chủ biên cuốn Lịch sử bộ đội Hóa học Quân khu 5 (1964-2005), được Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành năm 2008.

Trở về đời thường, Đại tá Võ Văn Bảy luôn tâm niệm giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hăng hái tham gia các công tác xã hội, bồi dưỡng và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài, ảnh: Đỗ Thị Ngọc Diệp

Gửi phản hồi »

BỌN PHẢN ĐỘNG DO HOÀNG CƠ MINH CẦM ĐẦU ĐÃ BỊ XÓA SỔ NHƯ THẾ NÀO?

Hoi truoc bao antg cung viet sai ve vu “hoang co minh” nhung sau nay cung phai dinh chinh lai
BỌN PHẢN ĐỘNG DO HOÀNG CƠ MINH CẦM ĐẦU ĐÃ BỊ XÓA SỔ NHƯ THẾ NÀO?

Thiếu tướng Phan Thanh Dư, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Mặt trận 579
Cách đây 20 năm, Thiếu tướng Phan Thanh Dư, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Mặt trận 579 quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia là người được cấp trên phân công trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, điều hành việc phối hợp với bộ đội và dân quân nước bạn Lào tổ chức lực lượng, lên phương án truy kích, tiêu diệt lực lượng phản động lưu vong thuộc cái gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu đang trên đường xâm nhập vào lãnh thổ Lào để trở về Việt Nam hoạt động chống phá, lật đổ chính quyền. Với ông, đó là những ngày tháng khó quên trong quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ tại Cam-pu-chia. Dưới đây là hồi ức của Thiếu tướng Phan Thanh Dư về sự kiện này.

Đến thời điểm năm 1985, những căn cứ trọng yếu của Pôn Pốt – Iêng-xa-ry nằm dọc biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan như điểm cao 547 Prết-vi-hia, Núi Cụt 743; căn cứ Pét-úm tại khu vực ngã ba biên giới Cam-pu-chia – Lào – Thái Lan đều đã bị quân ta đánh chiếm. Đây là điều kiện thuận lợi để ta mở rộng phạm vi nắm địch sâu và xa hơn.

Riêng địa bàn các tỉnh cực Nam của Lào giáp với Cam-pu-chia như Chăm-pa-xắc, Sa-la-van, tình hình địch còn khá phức tạp. Quân Pôn Pốt lấn chiếm khu vực phía Nam huyện Mường Mun, tỉnh Chăm-pa-xắc lập căn cứ để làm bàn đạp quay lại đánh phá Cam-pu-chia.

Bọn phỉ Lào thường xuyên quấy phá khu vực phía Tây tỉnh Sa-la-van gồm các huyện Na-khôn-phênh, Không-sê-đôn, Ba-vi, nhất là chúng liên tục tổ chức phục kích đánh phá giao thông trên tuyến đường 13 từ Không-sê-đôn đi Na-khôn-phênh.

Theo đề nghị của Chính phủ Lào, ta cử Trung đoàn 676 – nguyên là một đơn vị thuộc Sư đoàn 687 hoạt động tại Hạ Lào trong kháng chiến chống Mỹ, có kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng và thông thuộc địa bàn đến đứng chân tại đây để hỗ trợ bạn xây dựng cơ sở, phát động quần chúng đấu tranh chống lại bọn phỉ.

Sang đầu năm 1985, quân ta đánh bật Trung đoàn 81 thuộc Sư đoàn 801 của Pôn Pốt ra khỏi địa bàn huyện Mường Mun. Sau khi Mường Mun giải phóng, Trung đoàn 687 và Tiểu đoàn đặc công 409 thuộc Mặt trận 579 tiếp tục ở lại khu vực này giúp bạn củng cố, xây dựng chính quyền, ổn định đời sống nhân dân.

Liền sau khi tiêu diệt các căn cứ của Pôn-Pốt trên biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan và nhất là căn cứ Pét-úm tại ngã ba biên giới Lào – Thái Lan – Cam-pu-chia, lực lượng trinh sát của ta đã phát hiện những dấu hiệu cho thấy bọn phản động nước ngoài kết hợp với bọn phỉ Lào ngày càng gia tăng các hoạt động do thám, thăm dò tình hình khu vực dọc theo sông Mê-kông trên biên giới Thái Lan – Lào.

Đến đầu tháng 6-1987, trinh sát ta phát hiện một lực lượng khoảng vài trăm tên đóng

Vũ khí, tài liệu, cờ của bọn phản động Hoàng Cơ Minh bị ta tịch thu trong đợt truy kích chúng
quân dã ngoại theo từng cụm 8-10 người rải rác trong một khu rừng trên đất Thái Lan, phía bên kia huyện Mường Mun, cách biên giới Lào – Thái Lan chừng 6-8km. BTL Mặt trận 579 cho tiếp tục theo dõi và đã nhanh chóng xác định được đây là lực lượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài.

Ta nhận định, bọn phản động này rất có thể sớm muộn cũng sẽ xâm nhập qua đất Lào để tìm đường trở về Việt Nam hoạt động chống phá cách mạng.

Trước đây, trong cái gọi là chiến dịch “Đông Tiến I”, bọn phản động người Việt lưu vọng đã xuất phát từ đất Thái Lan vượt qua biên giới Thái Lan – Lào để về Việt Nam nhưng chúng vừa mới luồn sang đến phía Nam tỉnh Chăm-pa-xắc thì bị xóa sổ.

Trước đó, lực lượng phản động do Võ Đại Tôn cầm đầu cũng đi theo hướng này và đã bị dân quân Lào vây bắt tại km số 6 đường 23 từ Pắc-xế đi Pắc-xoòng. Lần này, để tránh “vết xe đổ” của đám đi trước, nhiều khả năng chúng sẽ đi lên phía Bắc, xâm nhập vào khu vực tỉnh Sa-la-van để xâm nhập về Việt Nam hướng Tây Nguyên.

Từ nhận định đó, BTL Mặt trận 579 phân công tôi trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, điều hành thực hiện các phương án xử lí nếu lực lượng phản động này vượt biên giới Thái Lan – Lào và tìm cách xâm nhập về Việt Nam.

Vào giữa tháng 6-1987, xảy ra sự việc một chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 687 trong khi đi làm nhiệm vụ tuần tra nắm tình hình địch tại Mường Mun khu vực biên giới Thái Lan – Lào đã bị mất tích không rõ lí do.

Buổi sáng ngày 13-7-1987, trinh sát Trung đoàn 676 sau một thời gian theo dõi đã phát hiện dấu vết của bọn phản động từ đất Thái Lan vượt qua sông Mê-kông xâm nhập vào lãnh thổ Lào tại khu vực Na-khôn-phênh và phía Bắc Không-sê-đôn. Từ đây chúng vượt qua đường 13 về phía Đông, tiến vào vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Sa-va-na-khẹt và Sa-la-van.

Đây là địa bàn rừng rậm với những dãy núi cao 350-400m kéo dài từ Tây sang Đông, giáp với tuyến đường đi B của bộ đội Trường Sơn thời chống Mỹ.

Sau khi phát hiện dấu vết bọn phản động, trinh sát ta ráo riết bám theo. Một ngày sau đó, trinh sát ta được lệnh phối hợp với dân quân Lào nổ súng để kìm giữ chân địch chờ lực lượng đến tiếp ứng.

Cuộc chạm súng diễn ra trên một ngọn đồi phía Đông đường 13, cách Na-khôn-phênh gần 4km. Bọn phản động vừa chống trả quyết liệt, vừa nhanh chóng di chuyển sâu vào rừng rậm.

Sau khi nghe Ban chỉ huy Trung đoàn 676 báo cáo tình hình bọn phản động xâm nhập và lãnh thổ Lào, BTL Mặt trận 579, lúc này Thiếu tướng Lê Huẩn, Tư lệnh và Thiếu tướng Phạm Bân, Phó Tư lệnh đang về Việt Nam công tác, còn tôi và Thiếu tướng Mai Tân, Phó Tư lệnh về Chính trị trực chỉ huy đã cùng với các đồng chí trong cơ quan BTL Mặt trận nhanh chóng bàn phương án dự kiến và điện xin máy bay trực thăng của BTL 719 (tiền phương BQP) cấp tốc từ Phnôm-pênh sang làm việc với lãnh đạo tỉnh Sa-la-van.

Ngay sau khi đến Sa-la-van, tôi và cơ quan Mặt trận 579 nghe Ban chỉ huy Trung đoàn 676 báo cáo cụ thể tình hình địch và thống nhất phương án xử lí.

Một cuộc họp khẩn trương diễn ra tại BCH quân sự tỉnh Sa-la-van do đồng chí Khăm Phủi, Bí thư tỉnh ủy Sa-la-van chủ trì với sự có mặt đông đủ các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội Sa-la-van, Chỉ huy Lữ đoàn 5 Quân đội cách mạng Lào, anh Ngãi, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 676.

Do đã chủ động bàn bạc và chuẩn bị trước nên khi đồng chí Khăm Phủi đề nghị phát biểu, tôi nhanh chóng nêu ý kiến nhận định tình hình và đề xuất phương án đánh địch.

Cụ thể như sau: Đây là lực lượng phản động người Việt Nam lưu vong ở nước ngoài do Mỹ đỡ đầu và chủ trương đưa về hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng có khoảng 150-200 tên được trang bị vũ khí, quá trình xâm nhập, di chuyển được bọn phỉ Lào bảo vệ và dẫn đường.

Về phương án đánh địch, tôi đề nghị phía bạn tổ chức để Lữ đoàn 5 và bộ đội, dân quân tỉnh Sa-la-van phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 676 kiên quyết vây diệt gọn, không để chúng chạy thoát.

Về lực lượng tác chiến, lấy Trung đoàn 676 làm chủ công, còn lực lượng của Lữ đoàn 5 (khoảng 100-130 tay súng) đảm nhiệm bên sườn phía Bắc và bộ đội địa phương, dân quân tỉnh Sa-la-van phối hợp bên sườn phía Nam tạo thành hai gọng kìm rộng bao vây, hỗ trợ để Trung đoàn 676 đột phá đánh thẳng vào đội hình địch. Chọn dãy núi cao 200-300m ở hướng Đông đông Bắc tỉnh Sa-la-van làm điểm hợp vây tiêu diệt địch.

Do phương tiện thông tin liên lạc hạn chế nên thống nhất lấy tiếng súng của Trung đoàn 676 làm hiệu lệnh hiệp đồng trận đánh. Khi nghe Trung đoàn 676 nổ súng ở đâu thì lực lượng của bạn ở hai bên cánh nhanh chóng khép vòng vây.

Về chiến lợi phẩm, tôi đề nghị toàn bộ tù binh người Việt Nam và tài liệu thu được của địch sẽ giao cho BTL Mặt trận 579, còn lại tù binh phỉ Lào và tất cả vũ khí, đạn dược, trang bị phương tiện… giao cho phía Lào. ngoài ra, nếu có vấn đề gì phát sinh, hai bên sẽ tiếp tục trao đổi, thống nhất.

Đồng chí Khăm Phủi hoàn toàn nhất trí với phương án tôi đưa ra và đề nghị đối với lực lượng bộ đội và dân quân Lào tham gia trận đánh để phía bạn tự lo liệu công tác tổ chức chỉ huy.

Cuộc họp bắt đầu từ nửa chiều và kết thúc chập tối. Trước khi quay về Sở chỉ huy Mặt trận 579 ở Stung-treng, tôi cho bố trí một máy liên lạc vô tuyến 2W loại K63 của Trung Quốc kết nối qua một trạm trung chuyển đặt tại Pắc-xế để liên lạc.

Cần nói thêm rằng, quân số của Trung đoàn 676 tham gia chiến đấu lần này thiếu 1 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn thiếu 1 đại đội do phải ở lại trực tại đơn vị.

Đi đầu trận đánh là lực lượng trinh sát và 1 tiểu đoàn do đồng chí Ngãi – Trung đoàn trưởng trực tiếp chủ huy. 1 tiểu đoàn khác do đồng chí Nghĩa – Tham mưu trưởng Trung đoàn chỉ huy làm nhiệm vụ dự bị phía sau, sẵn sàng đánh địch chạy lui đồng thời đảm bảo công tác hậu cần và giải quyết chính sách.

Gần 10 ngày sau lần địch chạm súng với trinh sát ta ở phía tây Na-khôn-phenh thì tại huyện Tùm Lan, phía Bắc thị xã Sa-la-van độ 30km, có 3 tên chạy theo bọn phản động đã tự ra đầu thú.

Một người tên Minh, nguyên là nhân viên thuế vụ ở Sài Gòn vượt biên sang Thái Lan rồi gia nhập nhóm phản động.

Một người tên Hoàn, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 143 bị địch bắt trong một trận chiến đấu tại Tà Beng (Cam-pu-chia), sau đó chạy thoát và gia nhập lực lượng Hoàng Cơ Minh.

Người thứ ba tên Hùng, chính là chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 687 bị mất tích hồi giữa tháng 6-1987.

Nhận được tin này, tôi đi xe u-oát từ Stung-trêng sang Sa-la-van trực tiếp nhận và đưa 3 người này về Sở chỉ huy Mặt trận 579.

Qua khai báo của 3 kẻ đầu thú, ta nắm được lực lượng xâm nhập lãnh thổ Lào lần này là bọn phản động người Việt Nam lưu vong tại Mỹ và một số nước khác, chúng đang thực hiện kế hoạch “Đông tiến II” để trở về Việt Nam hoạt động chống phá, lật đổ chính quyền.

Cầm đầu nhóm hỗn quan hỗn quân này là tên trùm phản động Hoàng Cơ Minh – nguyên Phó đô đốc quân đội Sài Gòn trước đây, hắn tự xưng Chủ tịch của cái gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”.

Trong thành phần của bọn phản động đa số là sĩ quan thuộc đủ các sắc lính ngụy, nhiều tên là Việt kiều lưu vong, một số tên là “ủy viên Trung ương Mặt trận”.

Chúng được trang bị vũ khí bộ binh, hơn một cơ số đạn; lương thực mang theo chỉ đủ dùng trong một nửa thời gian đi đường còn lại tự tìm cách lấy trong rừng, nương rẫy hoặc mua, cướp của dân.

Lộ trình hành quân sau khi vượt biên giới Thái Lan – Lào chúng sẽ qua đất Lào về Việt Nam theo hướng Tây Nguyên.

Ba tên Hùng, Hoàn và Minh còn cho biết, bọn phản động này rất ngoan cố và có ý thức chống cộng rất quyết liệt, chúng thề sẽ chiến đấu đến cùng, nếu bị bắt sẽ tự sát. Chỉ có tiến lên chứ không được lùi. Khi phát hiện một số tên có ý định tháo lui, chúng bắn chết hoặc thủ tiêu ngay tại chỗ. Bọn này cố đi nhanh và hết sức cảnh giác, tránh chạm súng.

Thủ đoạn của chúng là di chuyển trên những đồi núi cao để trong trường hợp bị tấn công thì buộc đối phương phải ở vào thế bất lợi từ dưới thấp, khiến chúng dễ bề chống trả và tẩu thoát. Chúng đi theo đội hình tập trung và chia làm 3 bộ phận, mỗi bộ phận 30-40 tên, tổ chức phòng thủ chặt chẽ.

Nhóm đi đầu có phỉ Lào dẫn đường, bộ phận đi giữa gồm lực lượng cốt cán và bộ chỉ huy; số đi sau cùng làm nhiệm vụ khóa đuôi, đánh chặn trong trường hợp bị truy đuổi.

Từ những thông tin khá rõ về tình hình địch, ta và bạn đã bổ sung phương án và gấp rút triển khai đánh địch. Địa bàn núi cao rừng rậm lại đang mùa mưa, bộ đội cơ động vất vả.

Cuộc bao vây, truy kích địch diễn ra ngày một khẩn trương. Những cuộc chạm súng lẻ tẻ và liên tục đã đẩy quân địch vào sâu trong rừng, lên những dãy núi cao và dồn chúng vào thế trận đúng như ta đã dự kiến.

Tuy nhiên, bọn phản động rất nham hiểm, chúng dùng thủ đoạn xé lẻ đội hình thành nhiều toán nhỏ len lỏi trong rừng, liên tục di chuyển, từ trên các sườn núi cao, lợi dụng gốc cây, vách đá ẩn nấp để bắn tỉa khiến bộ đội ta gặp nhiều khó khăn và không tránh khỏi thương vong khi phải đột kích từ bên dưới chân núi lên. Một số trận đánh diễn ra trên các quả đồi rất quyết liệt, có khi gần cả ngày quân ta mới giải quyết xong mục tiêu.

Cho đến khi ta thu được tấm bản đồ trong túi áo xác tên Thiếu tá Trương Ngọc Ny thì toàn bộ lộ trình hành quân xâm nhập của bọn phản động lộ rõ. Trên tấm bản đồ, một đường bút chì màu xanh thể hiện đường tiến quân của chúng nhằm thẳng hướng Nam qua 2 tỉnh Sê-kông và A-tô-pơ đến ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia rồi khoanh lại điểm tập kết tại địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Bước sang ngày thứ 34 của đợt truy kích, ta quyết định kết thúc số phận của bọn phản động. Trưa ngày 4-8-1987, các mũi truy kích của Trung đoàn 676 đồng loạt nổ súng đánh thẳng vào đội hình địch.

Theo kế hoạch hiệp đồng, khi nghe tiếng súng cấp tập của Trung đoàn 676, hai gọng kìm ở phía Bắc và phía Nam của bộ đội và dân quân Lào nhanh chóng khép vây khóa chặt chúng tại ngọn đồi 300. Trận đánh diễn ra ác liệt, bọn phản động chống trả bằng tất cả sự lì lợm, ngoan cố đến cùng hòng tìm lối thoát thân nhưng số phận của chúng đã được định đoạt: Bị tiêu diệt, tự sát hoặc bị bắt sống.

Riêng Hoàng Cơ Minh sau khi bị thương và chứng kiến đám thuộc hạ bị đánh tan tác, trong nỗi tuyệt vọng, hắn đã rút súng ngắn tự bắn vào đầu.

Để xác định chính xác là Hoàng Cơ Minh đã tự sát, tôi điện yêu cầu Ban chỉ huy Trung đoàn 676 cho chụp ảnh xác chết. Qua ảnh chụp tại hiện trường và các phim ảnh thu được của địch đã khẳng định đó chính là tên phản động Hoàng Cơ Minh.

Như vậy, sau 34 ngày liên tục truy kích địch, từ khi lực lượng trinh sát Trung đoàn 676 phát hiện dấu vết bọn phản động (13-7-1987) đến khi kết thúc trận đánh (4-8-1987) tổng cộng 220 tên cả bọn phản động lẫn phỉ Lào đã bị bắt và bị tiêu diệt.

Trong số những tài liệu ta tịch thu được của bọn phản động có một tài liệu mật quan trọng đã được mã hóa nằm trong túi áo va-rơi của Hoàng Cơ Minh.

Tài liệu này được Phòng 2 Mặt trận 579 dịch trong 3 ngày đêm, từ đây đã lộ diện những hoạt động liên quan đến kế hoạch hậu chiến sau năm 1975 của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

Theo Báo Biên Phòng, QĐND, ngày 30/7/07

Comments (3) »

NHỮNG BÀI CA BIÊN GIỚI KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

NHỮNG BÀI CA BIÊN GIỚI KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
(bài viết nhân 20 năm Chiến tranh biên giới: 17/2/2009 – 17/2/1979)

http://tuanvietnam.net/nhung-bai-ca-bien-gioi-khong-the-nao-quen

Do hoàn cảnh lịch sử, tình yêu quê hương đất nước đã luôn là một chủ đề lớn trong âm nhạc Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. Và trong muôn sắc màu của các vùng miền khắp đất nước, từ ngôi làng sau lũy tre mờ xa tới thành phố trẻ, từ Hà Nội trái tim hồng tới Cà Mau cỏ cây xanh tươi đước rừng bát ngát… thì biên giới chiếm một vị trí đặc biệt, đã khắc ghi vẻ đẹp của nó trong hàng chục bài hát của một thời.

Không biết trên thế giới, có nền âm nhạc của quốc gia nào có nhiều tác phẩm viết về biên giới như chúng ta chăng? Trong tâm thức người Việt, biên giới dường như là một khái niệm vừa đẹp đẽ vừa thiêng liêng. Nó đã là nguồn cảm hứng cho hàng chục sáng tác của các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ, đến mức sẽ là không quá nếu nói rằng chúng ta có cả một dòng “nhạc biên giới”.

CÓ NƠI NÀO ĐẸP HƠN?

Hẳn nhiên là không phải nhạc sĩ nào cũng từng đặt chân tới miền địa đầu của Tổ quốc, thậm chí có người chưa một lần đến nơi đó để lấy “thực tế”. Nhưng tất cả các sáng tác về chủ đề này đều làm toát lên hình ảnh biên cương với một nét chung: đẹp.

Đẹp nên thơ:

Em ơi, có nơi nào đẹp hơn
chiều biên giới
khi mùa đào hoa nở
khi mùa sở ra cây
lúa lượn bậc thang mây
mùi tỏa ngát hương bay…
(Chiều biên giới – nhạc: Trần Chung, thơ: Lò Ngân Sủn, 1980)

Anh ở biên cương,
nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Ở nơi ấy mùa này con nước lắng phù sa in bóng đôi bờ…
(Gửi em ở cuối sông Hồng – nhạc: Thuận Yến, thơ: Dương Soái, 1979-1980)

Đẹp hùng vĩ và dữ dội:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(Tây Tiến – nhạc: Phạm Duy, thơ: Quang Dũng)

Cũng như một số nhạc sĩ lấy biên giới làm nguồn cảm hứng sáng tác mà chưa hề thực sự tới “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, người nghe có thể chưa một lần đến biên giới. Nhưng đâu có sao, âm nhạc sẽ đưa chúng ta tới vùng đất ấy, để ta đứng trên đỉnh núi cao thăm thẳm, nhìn khoảng không bao la, mây chiều và khói lam nhà ai bảng lảng dưới bản làng… Hay những đồi đầy nắng gió, bạt ngàn hoa sim tím. Hay nơi rừng âm u, mây núi mênh mông, ngày nắng cháy và đêm giá lạnh… Nghệ thuật là thế, là sức tưởng tượng và khái quát của các nghệ sĩ, là sự cảm nhận đồng điệu của người thưởng thức.

Không rõ bài hát Việt Nam đầu tiên viết về biên giới là bài nào, nhưng ngay từ năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang vào giai đoạn căng thẳng, khốc liệt nhất, nhạc sĩ Phạm Duy – một trong những gương mặt đầu tiên của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại (tân nhạc) – đã có một sáng tác rất nổi tiếng, Bên cầu biên giới, viết tại thị xã Lào Cai, đúng ở nơi có chiếc cầu phân chia biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Nổi tiếng vì lẽ, ngoài chuyện hay, đó còn là một trong những bản nhạc tình hiếm hoi của thời ấy. Tuy nhiên, biên giới trong bài hát này hiện lên đẹp thì vẫn đẹp, mà mang nỗi buồn của một người trẻ tuổi nhìn quê hương bị giặc tàn phá, nhìn những mộng ước tuổi xuân xưa đổ vỡ.

Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc trên dòng sông sâu
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa…

Sau này khi về lại Việt Nam định cư (năm 2005), nhạc sĩ Phạm Duy có công bố thêm một ca khúc khác nhắc tới biên giới. “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”… Đó là bài Tây Tiến, ông phổ nhạc thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Quang Dũng.

HÀNH KHÚC VIỄN CHINH

Tuy nhiên, thời kỳ mà các bài ca biên giới ra đời nhiều hơn cả, có lẽ là giai đoạn cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước.

Ngay trong đêm 17 tháng 2 năm 1979, khi nghe tin chiến sự bùng nổ ở biên giới Việt – Trung, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết ca khúc mở màn cho dòng nhạc “biên giới phía Bắc” thời kỳ này. Đó là bài Chiến đấu vì độc lập tự do, được dàn hợp xướng Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam biểu diễn lần đầu tiên chỉ vài ngày sau đó. Ca từ rất hào hùng:

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới,
gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới…

Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết thời gian đó, bài hát được phổ biến rất nhanh chóng. Ông còn nhớ như in: “Ngày 20 tháng 2 năm 1979, thu thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Ngày mồng 9 tháng 3, được đăng trên báo Nhân Dân… Sau đó được nghệ sĩ Tuyết Thanh đơn ca. Tháng 4, được đoàn Quân nhạc biểu diễn. Tháng 5, được dạy trên sóng đài phát thanh”.

Ông kể thêm, về sau này, khi không khí chính trị và tình hình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đổi khác, một cách không chính thức, bài hát không còn được phổ biến nữa. Cách đây mấy năm, có nhà xuất bản muốn in nó trong một tuyển tập ca khúc của thời kỳ ấy, với điều kiện nhạc sĩ sửa lại một số từ. Ông gạt đi: “Bài hát nào ra đời cũng có giá trị lịch sử của nó. Lúc đó tôi sáng tác hoàn toàn từ cảm xúc của mình. Tình cảm chân thật thì làm sao chối bỏ được?”. Thế là biên tập viên đành bỏ bài hát ra khỏi tuyển tập.

Cùng thể loại hùng ca với Chiến đấu vì độc lập tự do là bài Lời tạm biệt lúc lên đường của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối, thật sự là một bản hành khúc viễn chinh đầy bi tráng:

Ngày ra đi, hướng biên cương,
gió bấc tràn về lòng anh lạnh buốt.
Nòng súng đen dán câu thơ,
Ý thơ thiệt hay là thơ Lý Thường Kiệt.
Lòng người Việt Nam nào đâu thích gì đạn bom
Ngọn nguồn đau thương trải qua đã nhiều rồi
Việt Nam ơi, Việt Nam ơi,
trái tim Việt Nam, tình yêu cuộc sống…

Và không thể không nhắc tới bản hùng ca Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận (1979) của nhạc sĩ Hồng Đăng. Không trong sáng, thiết tha như “tiếng ve trên đường vắng, hát theo bước hành quân, mãi xa vẫn còn ngân, tiễn tôi ra mặt trận” (Kỷ niệm thành phố tuổi thơ) năm nào, Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận hừng hực khí thế cả nước lên đường chiến đấu, một lần nữa.

Lịch sử gọi ta xông lên phía trước
Sẽ viết trọn bài ca anh hùng cứu nước.

Nhạc sĩ Trần Tiến góp vào không khí của thời kỳ đó với bài Những đôi mắt mang hình viên đạn. Ca từ gợi hình ảnh siêu thực: đôi mắt của những người già và trẻ em đang khóc than nơi biên giới. (*)

Nhạc sĩ Thế Hiển thì có bài Hát về anh, đề cập trực tiếp tới những hy sinh thầm lặng của người lính biên phòng.

Cho tôi ca bài ca về người chiến sĩ nơi tuyến đầu.
Nơi biên cương rừng sâu, anh âm thầm chịu đựng gió sương.
Dẫu có những gian lao,
dẫu có những nhọc nhằn
mang trong trái tim anh trọn niềm tin…

TÌNH CA BIÊN GIỚI

Tuy vậy, có sức sống mãnh liệt nhất trong dòng nhạc biên giới vẫn là các bản tình ca. Đậm chất trữ tình, chan chứa tình cảm đôi lứa, đó là điều làm nên sự khác biệt giữa dòng nhạc biên giới với dòng ca khúc trong hai cuộc chiến chống Pháp và nhất là chống Mỹ.

Nếu như nhạc thời chiến tranh chống Mỹ (kể cả tình ca) có phần hào hùng, mang tính cổ vũ chiến đấu cao hơn, thì những khúc tình ca biên giới giờ đây nhiều tình cảm với nỗi nhớ nhung được tô đậm hơn. Ở đây, tình yêu đôi lứa hòa quyện một cách nhuần nhuyễn với tình yêu quê hương đất nước, không hề có sự “lên gân”, “hô khẩu hiệu”. Nói cách khác, nếu nhạc chống Mỹ còn nhiều bài “cứng” thì các ca khúc thời kỳ này mềm mại hơn hẳn, trữ tình hơn hẳn.

Chính vì thế, những bản ballad cách mạng này dễ đi vào lòng người và có sức sống bền lâu. Không ai quên được những nét nhạc và lời ca tha thiết tình cảm của Hoa sim biên giới (Minh Quang), Thư gửi cho nhau (Phan Huấn)…

Nếu em lên biên giới,
Em sẽ gặp bạt ngàn hoa -
- hoa sim, giữa đồi nắng gió, tím như ai chờ mong…

Như một lời thủ thỉ với người thương. Hoa sim biên giới rất được những người lính biên cương yêu thích. Cũng giống như Nơi đảo xa, Chút thư tình của người lính biển là hai ca khúc mà bất cứ chàng lính hải quân nào cũng biết tới và có thể nghêu ngao.

Một điều thú vị là có tới ba bài hát cùng được người yêu nhạc gọi tên là Chiều biên giới.

Chiều biên giới em ơi
Có nơi nào xanh hơn
Như chồi non cỏ biếc
Như rừng cây của lá,
như tình yêu đôi ta…
(Chiều biên giới – nhạc: Trần Chung, thơ: Lò Ngân Sủn)

Chiều biên giới anh thầm nhớ về, nơi em đó bộn bề,
bao nỗi nhớ tha thiết
Hỡi anh có biết những lời em thương
bao ngày qua, tuy rằng xa em để trong lòng…
(Lời thương ta ngỏ cùng nhau – Đức Miêng)

Do thói quen của nhiều khán thính giả Việt Nam là lấy luôn những từ đầu tiên của ca khúc làm tên bài hát, nên bài “quan họ mới” Lời thương ta ngỏ cùng nhau của nhạc sĩ Đức Miêng đã bị nhiều người gọi nhầm là Chiều biên giới.

Bài Chiều biên giới thứ ba là của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, sáng tác khi ông đang tham gia chiến đấu ở vùng biên giới phía tây nam của Tổ quốc, năm 1978.

Sinh thời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một tác phẩm về biên giới – bài Em ở nông trường, em ra biên giới (1981), ông viết như một cách tưởng nhớ 20 cô gái thanh niên xung phong tình cờ gặp mặt, và họ đều đã hy sinh ở biên giới Tây Nam.

Từ biên giới xa chốn em sương mù
Rừng sâu tìm những lối mòn qua…

ANH HÙNG, LÃNG MẠN VÀ BÌNH DỊ

Chất trữ tình nhiều hơn – đó là nét khác biệt; còn điểm chung giữa dòng nhạc biên giới thời này và nhạc chống Mỹ, chống Pháp thời trước vẫn là lòng yêu nước, tinh thần lạc quan và can đảm của người lính. Không một chút bi lụy hay lùi bước trước hiểm nguy.

Mọi thế hệ người yêu nhạc đều sẽ luôn cảm thấy sức trẻ, tình yêu cuộc sống và ý chí của tuổi thanh xuân trong các ca khúc như: Ngày mai anh lên đường (Thanh Trúc, khoảng 1978), Gửi lại em (Vũ Hoàng, 1978, sáng tác trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây Nam), Nơi đảo xa (Thế Song, 1979), Tình ca mùa xuân (nhạc Trần Hoàn, thơ Nguyễn Loan, 1979), Chút thư tình người lính biển (nhạc Hoàng Hiệp, thơ Trần Đăng Khoa, 1981), Cánh hoa lưu ly (Diệp Minh Tuyền), Mùa xuân bên cửa sổ (Xuân Hồng)…

Một vài ca khúc của dòng nhạc biên giới hiện giờ đã “biến mất”, nghĩa là không còn được biểu diễn trên các sân khấu lớn, trên sóng truyền hình, hay ghi âm, in ra sách… Việc không lưu hành những bài này là theo một thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai nước.

Ngoài ra, theo tác giả của bài hát đầu tiên trong dòng “biên giới phía Bắc” – nhạc sĩ Phạm Tuyên với Chiến đấu vì độc lập tự do – thì một ca khúc có thể mang tính lịch sử, nghĩa là chỉ thích hợp với một giai đoạn nào đó. Dĩ nhiên, với tư cách một nhạc sĩ, ông luôn trân trọng các bài hát của mình và của đồng nghiệp, và mong mọi tác phẩm âm nhạc đều được phổ biến.

Nhiều bản tình ca biên giới khác thì đã được thế hệ ca sĩ trẻ thể hiện lại. Chẳng hạn, Gửi em ở cuối sông Hồng, một thời gắn với tên tuổi Tiến Thành – Thanh Hoa, nay đã đến lớp ca sĩ mới Việt Hoàn – Anh Thơ song ca.

Tình ca mùa xuân do Bảo Yến “ngự trị” năm nào giờ đến lượt Quang Dũng cover. Trọng Tấn cũng đã thể hiện Chiều biên giới, Hoa sim biên giới, Nơi đảo xa (từng gắn với giọng ca bất hủ của ca sĩ Tiến Thành – đã mất vì tai nạn giao thông trong một chuyến lưu diễn phục vụ bộ đội biên phòng, năm 1984) v.v.

Nơi địa đầu đã là nguồn cảm hứng sáng tác như thế đối với các nghệ sĩ. Nó gắn với Tổ quốc, gắn với hình ảnh người lính cầm súng gác cho bình yên miền biên thùy, với mối tình của họ vừa lãng mạn vừa bình dị.

Đẹp và lãng mạn thay là hình ảnh:

Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
… Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo.

Bình dị và cảm động thay là hình ảnh:

Và chúng mình yêu nhau, bắt đầu tự độ ấy
Em đi vào xưởng máy, khi trời còn hơi sương
Và anh lại ra đi, vui như ngày hội
Mùa xuân biên giới, súng anh gác trời xa.

Gửi phản hồi »

Trận đánh Ba Biên giới (Campuchia-Lào-Thái lan), 1.1985

Mùa khô năm 1984-1985, ta chủ trương tiến công quân địch ở ngã ba biên giới (Campuchia-Lào-Thái lan). Đây là một khu vực quan trọng về chiến lược, đồng thời cũng là khu vực khá phức tạp về nhiều mặt.
Vùng 3 biên giới có địa hình khá phức tạp.
Ở phía Campuchia, dãy Dangreak kéo dài thấp dần về phía Lào. Dốc đá lởm chởm, độ dốc cao rất phức tạp cho việc di chuyển đội hình cỡ sư đòan. Cũng như ở căn cứ 547, địch lợi dụng địa thế này để tổ chức phòng ngự và thiết lập các kho tàng.
Ở phía đất Lào, địa hình đỡ phức tạp hơn, đất bằng chủ yếu là rừng khộp, thuận lợi cho việc cơ động.
Bên kia núi là đất Thái lan, có con đường từ nội địa đến Pad Úm, là căn cứ chính của vùng 3 biên giới (trên bản đồ bản Pad Um nằm trên đất Thái lan, cách biên giới Thái lan-Campuchia-Lào khoảng gần 4km). Ở đây là căn cứ hậu cần, huấn luyện, kho tàng của quân Pol Pot lớn nhất bắc Campuchia. Địch thường dùng ô tô vận chuyển hàng hóa, súng đạn, lương thực từ Thái lan tập kết ở đây, rồi dùng sức người chuyển vào nội địa Campuchia. Cũng từ đây, địch xuất phát từ những đợt họat động quân sự để quấy phá vùng do ta kiểm sóat. Do căn cứ địch phần lớn nằm trên đất Thái lan, nên việc trinh sát, nghiên cứu địa hình, nắm địch sẽ có nhiều khó khăn.

Địch:
Lực lượng địch ở khu vực này có khỏang 1800 tên đến 2000 tên, được biên chế đến 5 đầu sư đòan. Thành phần địch ở đây rất hỗn tạp bao gồm quân Pol Pot, quân Srieka (CCK), bọn Fulro và cả phỉ Lào. Chúng đóng thành nhiều chốt điểm và cứ điểm trên chính diện dài hơn 40km, với chiều sâu từ 10km đến 12km. Địch dứng ở trên Dangreak thế cao, vững chãi.
Hỏa lực của địch ở các căn cứ này, ngòai các lọai cối 82 ly, 120 ly, DKZ75 ly, DKZ82 ly, còn có pháo xe kéo 85 ly. Chúng còn được không quân Thái lan sẵn sàng xuất kích chi viện. Sau khi bị quân ta tấn công tiêu diệt 547 (cuối 4.84), địch đã tăng cường đề phòng gắt gao. Ngòai việc bố trí lực lượng canh phòng trên từng cứ điểm, địch còn bố trí chông, mìn và có nhiều lớp rào xung quanh. Thủ đọan của địch cũng khôn ngoan hơn, chúng thường xuyên nống ra thăm dò phát hiện ta từ xa. Chúng dùng pháo 85 ly bắn thẳng từ trên cứ điểm xuống làm cháy xe vận tải của ta đang chạy trên đường.

Ta:
Lực lượng đánh địch vùng ba biên giới là lực lượng cấp quân khu, gồm sư đòan 2, sư đòan 315, riêng sư đòan 307 phần lớn ở lại tổ chức phòng ngự tại 547, các trung đòan xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh. Tính đầu trung đòan là 6 trung đòan bộ binh và 4 trung đòan hỏa lực, được bổ sung đủ quân số và trang bị đủ theo biên chế (chắc khỏang hơn 25000 quân?).
Ngòai lực lượng trên trong quá trình chiến đấu sẽ có sự phối hợp của các đơn vị quân đội nhân dân Campuchia. Trong đợt họat động này, ta đã tập trung lực lượng đủ chiếm ưu thế gấp nhiều lần so với địch cả về bộ binh và hỏa lực.

Phưong án chính của trận đánh này là chủ động nghi binh, lừa địch trên dải phòng ngự mạnh, liên hòan của chúng, đánh ép địch từ hướng chính diện buộc địch phải bộc lộ lực lượng và hỏa lực đối phó rồi dùng các lực lượng lớn bí mất bất ngờ xuất phát từ Lào và Campuchia luồn sâu vào đất Thái lan, đánh vào sau lưng địch, hình thành thế trận bao vây nhiều tầng trên một không gian rộng và thời gian tương đối dài.

Diễn biến chiến dịch:
Đánh nghi binh:
Từ giữa 12.1984 ta đã dùng các đơn vị đặc công và Trung đòan 95 sư đòan 307 đánh chiếm điểm cao 439, đánh chiếm núi Cụt của bọn Srieka (CCK) chiếm giữ, mở thông đường kéo pháo, triển khai lực lượng trên hứơng chính diện hơn 40km.
Từ 28.12.1984 lực lượng đanh ép nghi binh của ta bắt đầu hành động. Các đơn vị xe tăng, công binh, pháo binh, pháo cao xạ xuất hiện trên khu chiến, rầm rộ đánh phá các mục tiêu, làm đường cho xe chạy, và nổ súng bắn máy bay trinh sát Thái lan nếu chúng mon men vào không phận có quân ta. Một bộ phận bộ binh ta kết hợp Trung đòan bộ binh 19K của bạn, đánh chiếm một số cao điểm tạo thế gây sức ép buộc địch phải đưa lực lượng bộ binh và hỏa lực ra tuyến ngòai chống đỡ. Đợt đánh nghi bình này dài 10 ngày.
Lợi dụng lúc địch đang tập trung đối phó ở hướng chính diện, ta đã nhanh chóng đưa lực lượng chủ yếu của chiến dịch luồn sâu vào phía sau, theo phương án có chiều sâu 13km trên đất Thái lan: cánh trái là sư đòan 315 xuất phát trên đất Campuchia, cánh phải là sư đòan 2 xuất phát trên đất Lào (Khỏang cách giữa 2 sư đòan là 24km).
Sau nhiều ngày xuyên rừng, hành quân trong nắng nóng ở phía đất Lào, dùng thang dây vượt qua núi đá cheo leo trên đất Campuchia, các phân đội hỏa lực phải khiêng vác cối 120 ly bám theo đội hình, 2 sư đòan bộ binh của ta đã đến nơi quy định (trên đất TL) và liên lạc được với nhau.

Diễn biến trận đánh chính:
Hướng vu hồi:
7 giờ ngày 4.1.1985, các đơn vị ta đồng lọat nổ súng tấn công. Ở cánh trái, phía sau các căn cứ địch, Trung đòan bộ binh 143, sư đòan 315 tiến công đánh chiếm điểm cao 753. Ở cánh phải, Tiểu đòan bộ binh 5, Trung đòan 38 của Sư đòan 2 đánh chiếm điểm cao 412.
Lúc 18 giờ ngày 4.1.1985, Tiểu đòan 1, Trung đòan 1, Sư đòan 2 chiếm điểm cao 416, Tiểu đòan 2, Trung đòan 1, Sư đòan 2 chiếm đồi không tên, Tiểu đòan 3, Trung đòan 1, Sư đòan 2 chiếm mục tiêu X4 và X5 hình thành thế tấn công từ phía sau vào trung tâm địch.
Ngày 5.1.1985, lúc 10 giờ sáng, Tiểu đòan 4, Trung đòan bộ binh 142, Sư đòan 315 đánh chiếm các điểm cao 694, 651, đồng thời Trung đòan 733, Sư đòan 315 tiến công tiêu diệt địch ở suối Ô Chênh.
Ngay sau đó vào lúc 11 giờ bên cánh phải, Tiểu đòan 2, Trung đòan 1 đánh chiếm điểm cao 555, Tiểu đòan 3, Trung đòan 1 đánh chiếm sở chỉ huy Sư đòan 801 quân Pol Pot ở sườn điểm cao 555.
Hòan tòan bị bất ngờ, bọn địch chống trả lúng túng. Vòng vây của quân ta mỗi lúc một khép chặt không cho địch chạy sang Thái lan.

Hướng chính diện:
Hiệp đồng chặt chẽ và nhịp nhàng với lưc lượng chính đang vu hồi từ phía sau tới, trên hướng chính diện, Tiểu đòan 3, Trung đòan 95, Sư đòan 307 kết hợp với pháo binh và xe tăng đánh chiếm điểm cao 612 và chặn quân địch đang hoang mang ở phía nam 612 và tiêu diệt chúng.
Với sức tấn công áp đảo, nhất là cánh quân của 2 sư đòan bộ binh ta từ đất Thái lan đánh tới cộng với các lực lượng pháo binh, xe tăng, công binh, bộ binh, cao xạ từ phía huớng chính diện đánh lên, địch hòan tòan rối lọan, không thể đánh trả quyết liệt được, dần dần tan rã.
12 giờ ngày 5.1.1985, quân ta cơ bản đã đqnh và làm chủ tòan bộ các cứ điểm ở khu vực Ba biên giới, tổ chức truy quét, thu dọn chiến lợi phẩm và tổ chức lực lượng chốt giữ.

Kết quả:
Kết quả trên một địa bàn rộng nằm giữa biên giớ 3 nước Campuchia-Lào-Thái lan quân ta đã tiêu diệt một lọat các căn cứ gồm:
+ Căn cứ Núi Cụt do bọn Srieka chiếm giữ
+ Căn cứ hỗn hợp của sư đòan 801 quân Pol Pot
+ Căn cứ hậu phương sư đòan 920 quân Pol Pot
+ Vùng 105 của trung ương tổ chức Fulro
+ Một bộ phận phỉ Lào
+ Tiền phương Bộ Tổng Tham mưu Pol Pot ở Pad Um.
Lọai khỏi vòng chiến đấu 1.173 tên địch, trong đó bắt sống 244 tên.
Thu 4.790 súng các lọai (trong đó có 10 pháo cao xạ 37 ly, 1 pháo 85 ly, 1 cối 120 ly, 5 cối 100 ly), thu 9 kho đạn gồm 412 tấn đạn, 15 xe ô tô, 3.5 tấn thuốc chữa bệnh, hàng chục tấn gạo, muối và quân trang quân dụng chủ yếu là hàng Trung quốc. Phá hủy nhiều kho tàng, đạn dược, trang thiết bị khác.
Sau khi làm chủ chiến trường, công binh ta đã nối đường của địch vào đường của ta, dùng xe ô tô chuyển chiến lợi phẩm vào nội địa Campuchia.

Phản hồi (1) »

Trận cao điểm 547 (Campuchia) 4.1984

Sau 4 lần đánh, kể cả lần vào tháng 5.83 của Sư đòan 307 không thành công. Trận đánh căn cứ 547 lần này của QK5 là một trận đánh qui mô lớn, hiệp đồng binh chủng, do Tư lệnh QK5 trực tiếp chỉ huy.
Cao điểm 547 nằm trên dãy Đăng rếch (Dangreak/chiếc đòn gánh), dài khỏang 40km, chiều rộng 30km. Dãy núi nằm sát biên giới Thái lan, đứng dưới chân núi nhìn lên như một bức tường thành vững chắc, án ngữ một vùng rộng lớn. Một trục đường lớn từ Thái lan vắt qua dãy núi. Dãy núi này về mùa khô nước chỉ có ở chân núi. Trong nội địa Campuchia, hầu hết là rừng khộp, lại càng khan hiếm nước. Hết mùa mưa là các khe suối cạn, nước chỉ còn đọng lại thành từng vũng nhỏ, có nơi đi hàng buổi đường mới tìm thấy nước. Dân cư thưa thớt, chủ yếu ở dọc theo trục đường từ Thái lan sang.
Địch: Bọn Polpot chọn dãy Đăng rếch làm căn cứ phía trước của chúng, gồm 2 chức năng:
1. Tạo chân hàng từ Thái lan qua
2. Dùng sức người tổ chức gùi hàng vào các căn cứ của địch ở sâu trong đất Campuchia.
Căn cứ địch có 2 tầng phòng thủ: tầng trên là các lọai hỏa lực, tầng dưới là mìn. Ở mặt đất địch gài mìn chông bộ binh, mìn chống tăng, địch còn treo hàng nghìn quả mìn trên đá, trên cây thay cho lính cảnh giới. Đây là một căn cứ phòng ngự kiên cố, nhiều tầng, có chính diện, có chiều sâu kết hợp với đội hình phức tạp, núi cao trung bình 400-500m, có nới 600-700m, đá lởm chởm, vách núi cheo leo, nhiều hang động, nhiều vách đứng có độ dốc từ 45 đến 60 độ, có nơi thẳng đứng muốn leo lên phải dùng thang dây.
Căn cứ 547 do 2 sư 612 (thiếu) và sư 616 (thiếu) của Polpot chiếm giữ. Ngòai lực lượng bộ binh, địch có cả hỏa lực mạnh chi viện từ 1 đến 2 tiểu đòan pháo binh, 10-12 lần chiếc máy bay/ngày của Thái lan, bố trí cách đó 9-10km. Trên cơ sở 2 tần phòng thủ, hệ thống chốt điểm ở 547 chia làm 3 tuyến:
1. Tuyến an ninh cảnh giới bên ngòai
2. Tuyến đề kháng chính do bộ binh kết hợp với hỏa lực bố trí dựa vào các hang động hình thành từng điểm tựa có công sự gỗ tương đối vững chắc, có hệ thống vật cản thiên nhiên kết hợp với rào dây thép gai và các lọai mìn
3. Tuyến trung tâm gồm sở chỉu huy, lực lượng bảo vệ, kho tàng thành từng cụm, có những khu kho vào sâu trong biên giới (TL?).

TA: Lực lượng tham gia trận đánh gồm:
- F307 đủ,
- E1/F2,
- E143/F315
- 1 E pháo
- 1 E Cao xạ
- 1D xe tăng
- 1D xe bọc thép M113 (35 xe)
- 1D cao xạ 37mm

Khó khăn của quân ta trong trận đánh này là khó khăn về tư tưởng, vì nhiều lần đánh 547 không thành công, đặc biệt lần đánh thứ 4 của F307, trận đánh không giải quyết được vì thiếu nước uống, thương vong cao, bỏ thương binh, liệt sỹ lại chiến trường.

Đồng chí Tư lệnh mới về nhận nhiệm vụ tư lệnh QK5 khi đi kiểm tra MT579 và nghiên cứu chiến trường tại chỗ, xác định khâu chuẩn bị, đảm bảo cho trận đánh là vấn đề tiên quyết, nên đã đề ra một số nội dung cần chuẩn bị:
1. Tổ chức trinh sát nắm địch:
a. Tổ chức 7 tóan trinh sát của các E, F và MT579 và sau đó tổ chức trinh sát của người chỉ huy theo dự kiến phân công theo từng hướng.
b. Tư lệnh và các cơ quan chủ chốt của QK và MT579 đi kiểm tra. Trong thời gian 2 tháng đã có hơn 200 lượt người đi trinh sát chuẩn bị.
c. Đồng thời QK tổ chức hệ thống trinh sát quân báo gồm: đặt 4 đài quan sát, 4 đội trinh sát luồn sâu, 25 tóan trinh sát cơ động, 1 tóan trinh sát bắt tù binh và 13 tóan trinh sát dự bị.
2. Tổ chức tập huấn, huấn luyện:
Tuy là đơn vị cũ, nhưng phần lớn cán bộ chiến sỹ mới nên việc tổ chức tập huấn huấn luyện rất quan trọng. Đối với cán bộ chỉ huy từ cấp C đến F: tập huấn về chiến thuật E, F đánh địch trong công sự vững chắc, tổ chức tập bài về phần quyết tâm và đồng thời rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 của F307. Đối với bộ đội tổ chức huấn luyện theo hình thức tiến công địch trong công sự vững chắc từ cơ bản đến diễn tập phân đội, có bắn đạn thật và luyện tập theo phương án.
3. Tổ chức cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào khu tập kết gồm hơn một vạn quân (11.000) trong đó đưa từ Việt nam sang 3.000 quân (E1/F2). Huy động 438 chuyến xe và 5 chuyến chyên cơ bằng trực thăng và AN 26 cho cán bộ từ Pleiku sang và phân đội A72 từ Hà nội vào Tà beng.
Vận chuyển vật chất hậu cần đảm bảo cho trên 11 nghìn quân có đủ lương thực, thực phẩm ăn trong thời gian chuẩn bị và bước vào chiến đấu (25 ngày, có 5 ngày lương khô/gạo sấy)
Đảm bảo vận chuyển 531 tấn vũ khí, đạn dược và phương tiện. Bảo đảm kỹ thuật cho 591 pháo, cối và cho tòan bộ súng bộ binh theo biên chế.
Để đảm bảo cho việc cơ động, vận chuyển QK giao lực lượng công binh bảo đảm và khai thông 3 mạng đường chính và đường nhánh dài trên 100km. Xây dựng và thiết bị 3 sân bay trực thăng. Khi bước vào chiến đấu, tổ chức 3 đội đảm bảo và hộ tống xe tăng thiết giáp, pháo binh chiếm lĩnh và cơ động chiến đấu. Tổ chức 6 đội khắc phục vật cản mở đường cho đột phá và tiến công của các đơn vị.
Về đảm bảo thông tin, QK tổ chức 2 xe tổng đài tiếp sức, 2 xe công trình. Huy động 830 máy vô tuyến điện và hữu tuyến điện, 670km dây và 1.628 cán bộ chiến sĩ thông tin.

4. Một công tác đảm bảo hết sức quan trọng trong trận đánh này là đảm bảo nứơc cho bộ đội. Rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 vì thiếu nước uống, bộ đội bị ngất xỉu, bộ đội đi tìm nước uống vấp mìn thương vong làm mất sức chiến đấu. Có đơn vị hành quân cả đêm, sáng ra hết nước không đánh được. Lần này có quy định rõ ràng bình quâ mỗi cán bộ chiến sĩ đảm bảo 5 đến 6 lít nước/ngày. 100% quân số tham gia chiến đấu có bi dông nước lọai 1 lít và 0,75lít, 40%-60% quân số được trang bị lọai bi đông 5 lít và can nhựa 4lit. hậu cần QK cấp hơn 1000 can nhựa lọai 10l, 20l, bao nilong lọai lớn có dây gùi cho đội vận chuyển nước cho từng E. Các tiểu đội và khẩu đội được cấp 1 bao nilong lớ bảo quản nước khi chiếm lĩnh.
Phương thức cung cấp nước của QK được tổ chức chu đáo. Đội xe chuyển nước của QK gồm 30 xe có 10 xe bọc thép hộ tống dẫn đường. Mỗi xe chở nước có 2 tec chứa nước lọai 3 khối. Các tec nước làm tại Đà nẵng từ các khoanh tôn làm cống nước của Mỹ còn lại. Số xe này chia làm 4 đội, có trang bị máy bơm nước. Từ nguồn về nơi trữ nước xa 40km. Tại 3 trạm tiếp nước, QK cấp 15 thuyền nhôm, các đội xe chở nước đổ vào thuyền nhôm rồi quay lại chở tiếp. F2 và F307, mỗi F có 2 trạm tiếp nước, tại đây các E lấy nước về phân phối cho các đơn vị. Có trạm tiếp nước ở sau lưng, sát ngay khu chiến làm cho bộ đội yên tâm chiến đấu, không sợ chết khát như các lần đánh trước. Đối với các đơ vị binh chủng, mỗi xe tăng, thiết giáp đều phải có thùng phuy (có nắp) chứa 100L, mỗi xe kéo pháo được cấp 1 phuy có nắp chứa 200L.

Diễn biến trận đánh:
Ngày 20.4 (N-5) các E của F307 thực hiện đánh tạo thế và vây cắt. E678 đánh ép từ đông nam căn cứ tạo điều kiện cho công binh mở đường, làm trận địa và triển khai hệ thống thông tin, E678 đã đánh tan một cánh quân địch ra ngăn chặn và đã chiếm được hồ nước Suối tre, điểm cao 106.
Cùng thời gian đó từ 20.4 đến 24.4, các E 94, 95, 29 của F307, E143/F315 phái trinh sát đi trước chuẩn bị hành lang và vào vị trí chuẩn bị vây cắt. Địch phát hiện được đã dùng cối 82 ly, B40, B41 bắn chặn. Quân ta vẫn khôn khéo giữ bí mật, cánh n ào lộ thì tổ chức đánh chiếm vị trí, cánh nào không lộ thì tránh địch, không cho địch phán đóan ý đồ của ta.
Trên hướng tấn công đột phá chính diện, E1/F2 và xe thiết giáp K63 (hay M113?), một đại đội xe tăng T54, pháo binh, cao xạ cũng vào triển khai chiếm lĩnh.
Ở mũi đánh phối hợp ngày 22.4, 23.4, trung đòan 19K của bạn bao vây và đánh chiếm khu vực Anlung.

7 giờ sáng 25.4, quân ta đồng lọat nổ súng tiến công. E1 của F2 được hỏa lực pháo binh chi viện, phát huy hỏa lực đi cùng của bộ binh, hỏa lực của xe tăng, thiết giáp, các đơn vị lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu được quy định. E1 nhanh chóng đánh chiếm được mục tiêu Z6. Đến hết ngày 25.4, E1 làm chủ hòan tòan các mục tiêu Z1, Z12, Z14.

Các trung đòan của F307 thực hành bao vây phía sau địch ở cánh phải. Đánh từ sau lưng địch đánh ra. Quân ta lần lượt chiếm các điểm cao, cắt con đường địch có thể chạy từ 547 sang Thái lan.

Ở cánh trái, mặc dù đã ở vị trí xuất phát, nhưng E143/F315 theo lệnh của MT719 (là mật danh Tiền phưong BTTM/BQP) không được đánh sâu vào đất Thái lan, do vậy nhiệm vụ của F307 (ở cánh phải) nặng hơn, phải nhanh chóng phát triển phối hợp với E1/F2 diệt gọn bọn địch.
Ngày 26.4, mức độ chống trả của địch ở các mục tiêu còn lại quyết liệt hơn. Lợi dụng các hang đá trên vách núi, chúng bố trí DKZ, trọng liên, đại liên bắn dữ dội khi ta nổ súng xung phong. Quan sát trực tiếp những thủ đọan chống trả của địch, sư đòan trưởng (F2) Trương Hồng Anh lệnh cho trận địa pháo 85 ly và pháo cao xạ 37 ly hạ nòng bắn “xăm” vào từng hỏa điểm của địch. Đại đội xe tăng T54 cũng được lệnh cơ động lên phía trước, dùng pháo trên xe tham gia tiêu diệt các hỏa điểm địch trên vách núi. E1 vừa theo dõi phát hiện mục tiêu cho pháo bắn vừa chớp thời cơ tổ chức xung phong đánh chiếm mục tiêu. F307 từ trên thế cao tiếp tục khép chặt vòng vây, đánh dồn địch lại. Đánh thẳng vào các căn cứ, kho tàng của địch. Đến hết ngày 26.4, quân ta đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu như Z1, Z1a, Z4.
Sáng 27.4, E1/F2 đã bắt liên lạc được với F307, phối hợp tấn công dứt điểm các mục tiêu còn lại quanh khu vực căn cứ 547 và tiến hành lùng sục, tảo trừ, truy quét tàn quân địch.

Kết quả:
Trận đánh này quân ta đã xóa sổ 2 sư đòan 612 và 616 quân Pol Pot (mỗi sư đòan địch thường từ 600 đến 1000 tên), lọai khỏi vòng chiến đấu 1800 tên, trong đó bắt sống 300 tên. Thu 515 súng các lọai gồm:
+ 1 khẩu cối 120 ly
+ 2 khẩu cối 100 ly
+ 92 khẩu cối 82 ly
+ 15 khẩu DKZ 75 ly
+ 16 khẩu DKZ 82 ly
+ 15 khẩu 12,7 ly
+ 17 đại liên
+ 33 trung liên
+ 147 khẩu B40, B41
+ số còn lại là AK và CKC
Thu nhiều quân trang quân dụng, hàng trăm tấn đạn, 30 tấn lương thực, một số tài liệu quan trọng.
Phá hủy 5 kho trang bị, lương thực và súng đạn. Triệt phá hòan tòan căn cứ cửa khẩu 547, chiếm giữ các khu vực qaunh các điểm cao then chốt. Quân ta tổ chức chốt giữ, xoay ngược các điểm chốt, nhằm mục tiêu về phía Thái lan.

Chú ý:
Khu vực điểm cao 547 chính là khu vực đền Preah Vihear.
Sư trưởng F2, Đại tá Trương Hồng Anh đã hy sinh sau trận đánh do trúng mìn địch còn sót lại ngay lúc đi xe lên khu vực đền.
F307 đã đánh vòng và vây ép chặn quân địch từ phía đất TL. Trong khi đó F2 và các đơn vị khác đánh chính diện từ phía đất CPC.

Comments (4) »

Diễn văn của Samđếch CHIASIM nhân 31 năm ngày giải phóng Cawmpuchia 7/1/1979-7/1-2010

Gửi phản hồi »

Năm mới chúc các chiến hữu một năm vui tươi , hanjnh phuc và nhớ rừng

Gửi phản hồi »

CĂMPUCHIA-VỚI NGÀY 7/1/1979

CĂMPUCHIA-VỚI NGÀY 7/1/1979

Thứ tư, 07/01/2009 – 09:17:pm

“Xin quý khách hãy bày tỏ sự tôn kính đối với hàng triệu người đã bị giết hại dưới chế độ diệt chủng Polpot”


- Tên nước: Vương quốc Campuchia (the Kingdom of Cambodia)
- Diện tích: 181.035 km2
- Vị trí địa lý: nằm ở Tây Nam bán đảo Đông Dương, Tây và Tây Bắc giáp Thái Lan, Đông và Đông Nam giáp Việt Nam, Bắc giáp Lào, Nam giáp Vịnh Thái Lan.
- Dân số: 13,9 triệu dân (7/2006); trong đó, người Khmer chiếm 90%, còn lại là các dân tộc khác.
- Thủ đô: Phnôm Pênh (dân số khoảng 1,2 triệu người).
- Các tỉnh, thành phố: có 20 tỉnh và 4 thành phố (ngoài Phnom Penh, 3 thành phố khác là Kompong Som, còn gọi là Sihanoukville, Kep, và Pailin). Kompong Cham là tỉnh có dân số đông nhất.
Lịch sử hình thành: Vương quốc Khmer ra đời vào cuối thế kỷ thứ 9 trên lãnh thổ của Phù-nam và Chân-lạp trước đây. Kinh đô lúc đó là Angkor. Từ cuối thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13, Vương quốc Khmer phát triển cực thịnh. Từ thế kỷ 13 đến nửa đầu thế kỷ 19, các cuộc nội chiến và chinh phục của ngoại bang đã làm cho Vương quốc Khmer suy yếu.
Những giai đoạn lịch sử quan trọng:
- Những năm 60 của thế kỷ 19 thực dân Pháp vào Đông Dương. Năm 1863, Pháp buộc Vua Norodom phải ký Hiệp ước đặt Cămpuchia dưới sự bảo hộ của Pháp và đến 1884 Cămpuchia hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp.
Cămpuchia theo chế độ quân chủ lập hiến, đa nguyên chính trị, và nền kinh tế thị trường. Đứng đầu nhà nước là Vua, biểu tượng của sự đoàn kết và thống nhất dân tộc.
Hệ thống quyền lực được phân định rõ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Cho đến:
- Ngày 18/3/1970, Lôn Nôn – Xi-ríc Ma-tắc (Lon Nol – Siric Matak), được sự hậu thuẫn của Mỹ đảo chính Xi-ha-núc, thành lập “Cộng hoà Khmer” (tháng 10/1970). Xi-ha-núc và Hoàng tộc sang cư trú tại Trung Quốc và sau đó thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc Campuchia (FUNK) và Chính phủ Đoàn kết dân tộc Vương quốc Campuchia (GRUNK) đặt trụ sở tại Bắc Kinh.
- Ngày 17/4/1975, Pôn Pốt (Pol Pot) lật đổ chế độ Cộng hoà của Lôn Nôn, thành lập nước “Campuchia dân chủ”, thực hiện chế độ diệt chủng tàn khốc nhất trong lịch sử của Campuchia
- Ngày 2/12/1978, Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia ra đời do ông Hêng Xom-rin (Heng Samrin) làm Chủ tịch.
-Ngày 07/1/1979, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia đã đứng lên lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xary (Pol Pot – Yeng Sari), thành lập nước “Cộng hoà Nhân dân Campuchia”, năm 1989 đổi thành “Nhà nước Campuchia” (SOC).

Chân dung Pôn pốt:


Hai vợ chồng Khieu Ponnary – Pol Pot.

Pônpôt (Pol Pot, tên chính là Saloth Sar) – lãnh tụ Khơme Đỏ, người chịu trách nhiệm chính việc tàn sát nhân dân Campuchia thời kỳ Khơme Đỏ cầm quyền (1975-1979) Pôn Pôt sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở tỉnh Kompông Thom. Thuở nhỏ, Pôn Pôt học ở chùa làng, sau học trung học ở Phnom Pênh. Sau khi tốt nghiệp trung học, Pôn Pôt thi vào trường kỷ thuật điện. Năm 1949, Pôn Pôt sang Pháp du học. Thời gian lưu học tại Pháp, Pôn Pôt tham gia nhóm macxit của lưu học sinh Campuchia. Năm 1953, về nước Pôn Pôt tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, lợi dụng sự bất mãn của một số Đảng viên đối với Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Pôn Pốt đã tập hợp� phe cánh âm mưu cướp quyền lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng. Trong đại hội Đảng tháng 9-1960, Pôn Pốt được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sau khi Tổng Bí thư Tuxamut bị sát hại, Pôn Pốt triệu tập Hội nghị trung ương Đảng vào tháng 1/1963 và được bầu làm Tổng Bí thư. Cuối năm 1965, Pôn Pôt phát động phong trào đấu tranh vũ trang vũ trang nhằm lật đổ chính quyền Xihanuc và sau đó là chính quyền Lon Non. Tháng 4/1975, quân và dân Campuchia đã lật đổ chế độ Cộng hòa Lon Non, giải phóng hoàn toàn đất nước Campuchia.
Ngày 2/7/1993, Khieu Ponnary, sau hai thập kỷ nằm trong bệnh viện tâm thần, đã chết vì bệnh ung thư.


Tên Duch

Ta Mok tại Anlong Veng, năm 1998

Ieng Sary


Khieu Samphan

Nuon Chea

Mộ Pol Pot và đám trẻ dưới chân núi Dangkrek

. Ngay sau khi Pol Pot qua đời một cách bí ẩn Pol Pot được hỏa táng bằng lốp xe cũ, bàn ghế hỏng và củi…

Những hình ảnh về tội ác diệt chủng:


Bức ảnh người phụ nữ bồng con sắp bị Khmer đỏ khoan vào đầu – hình thức giết người man rợ lúc bấy giờ

Một cách thức tra tấn: rút móng tay:


Cách khác: Đổ axit vào mặt:


Cách khác nữa: khoét ngực ra và thả con rết cho nó chui vào người!:


Nhiều nạn nhân ko chịu nổi đòn roi hay bệnh tật, đã chết và bị khiêng đi:


Rời khỏi nhà tù, dù đã lần thứ 2 nhưng cảm giác rùng rợn, ghê người trước những tội ác quá dã man của bọn Polpot vẫn lởn vởn trong đầu. Nếu ko có nạn diệt chủng, chắc hẳn giờ đây Campuchia đã trở thành 1 nước phát triển ko kém gì VN.

Những đứa trẻ ngây thơ này, liệu bao giờ mới đủ lớn để có thể cảm nhận hết nỗi đau mà cả một dân tộc phải gánh chịu? Dù sao, chúng cũng là những đứa trẻ may mắn, vì ko bị quật vào thân cây hay tung lên cao rồi bắn ngay từ khi mới cất tiếng khóc chào đời….

Sau khi “ăn” một nhát búa vào đầu làm cái sọ gần như vỡ đôi, đồng chí này hình như ngắc ngoải chưa chết hẳn, thế là lãnh tiếp 1 phát đạn xuyên từ đỉnh đầu, lần này chắc đồng chí không thể qua khỏi.
Và đây, là những lời tâm sự đầy xót thương và căm phẫn của người dân Campuchia đối với bọn Polpot tàn độc, đọc những lời này, bất kì ai cũng phải rùng mình, rợn tóc gáy xen lẫn với những xót xa, cảm thương vô hạn:

Lược dịch:

“VỚI NHỮNG GÌ HIỆN HỮU NƠI ĐÂY, CHÚNG TA NHƯ ĐANG NGHE THẤY VĂNG VẲNG TIẾNG GÀO THÉT ĐAU ĐỚN CỦA NHỮNG NẠN NHÂN. HỌ CHẾT MÀ KHÔNG KỊP NÓI LỜI CUỐI CÙNG VỚI BẠN BÈ, NGƯỜI THÂN. HỌ ĐÃ ĐAU ĐỚN ĐẾN THẾ NÀO KHI BỊ CUỐC BỔ, DAO ĐÂM HAY KIẾM CHÉM TRƯỚC KHI TRÚT HƠI THỞ CUỐI CÙNG. HỌ ĐÃ XÓT XA ĐẾN THẾ NÀO KHI TẬN MẮT NHÌN THẤY NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU CỦA MÌNH, CON CÁI, VỢ, CHỒNG MÌNH BỊ HÀNH QUYẾT TRƯỚC KHI ĐẾN LƯỢT CHÍNH MÌNH.
CÁCH THỨC GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT MÀ BỌN POLPOT SỬ DỤNG ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI DÂN VÔ TỘI THẬT KHÓ DIỄN TẢ ĐẦY ĐỦ VÀ RÕ RÀNG BẰNG LỜI BỞI NHỮNG CÁCH THỨC ẤY LÀ QUÁ TÀN KHỐC. THẬT KHÓ TƯỞNG TƯỢNG ĐƯỢC BỌN CHÚNG LÀ AI: CHÚNG MANG HÌNH HÀI CỦA CON NGƯỜI NHƯNG CÓ TRÁI TIM CỦA QUỶ DỮ. CHÚNG MANG KHUÔN MẶT CỦA NGƯỜI KHƠME NHƯNG LẠI GIẾT CHÍNH NHỮNG ĐỒNG BÀO TÔNG TỘC CỦA MÌNH. CHÚNG MUỐN BIẾN NHỮNG NGƯỜI DÂN CAMPUCHIA THÀNH MỘT NHÓM NGƯỜI HOÀN TOÀN VÔ THỨC, CHỈ BIẾT NHẮM MẮT TUÂN THEO MỆNH LỆNH VÀ GIẾT NGƯỜI NHƯ 1 THÚ VUI. CHÚNG ĐÃ HUẤN LUYỆN VÀ BIẾN NHỮNG ĐỨA TRẺ CÓ TRÁI TIM HOÀN TOÀN TRONG TRẮNG, LƯƠNG THIỆN VÀ NGÂY THƠ THÀNH NHỮNG TÊN ĐAO PHỦ GHÊ TỞM, DÁM GIẾT NHỮNG NGƯỜI VÔ TỘI, THẬM CHÍ GIẾT CẢ CHA MẸ, HỌ HÀNG VÀ BẠN BÈ CỦA MÌNH.
CHÚNG ĐỐT CHÁY CÁC KHU CHỢ, PHÁ HUỶ HỆ THỐNG TIỀN TỆ, XOÁ BỎ LUẬT PHÁP VÀ VĂN HOÁ QUỐC GIA, ĐẬP TAN TRƯỜNG HỌC, BỆNH VIỆN, NHÀ THỜ VÀ NHỮNG DANH THẮNG TUYỆT TÁC NHƯ KHU ĐỀN ANKOR WAT, CHÚNG BẮT VÀ GIẾT HẾT NHỮNG NHÂN TÀI, TRÍ THỨC CỦA QUỐC GIA, CHÚNG MUỐN NHẤN CHÌM CẢ ĐẤT NƯỚC CAMPUCHIA TRONG BIỂN MÁU VÀ NƯỚC MẮT. CẢ 1 NỀN VĂN MINH QUỐC GIA ĐÃ BỊ NHẤN CHÌM, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI ĐẤT NƯỚC CAMPUCHIA BỊ ĐƯA TRỞ LẠI THỜI KÌ ĐỒ ĐÁ…
.”

Rời xa khu vực đầy tử khí ấy, điểm đến tiếp theo là nhà tù Toul Sleng, trước đây tên của nó là nhà tù S-21 (Security Office 21). Đây là nơi mà bọn Khơ me đỏ giam cầm và tra tấn các tội nhân. Từ Toul Sleng, theo ý nghĩa của từng chữ, có thể hiểu đây là một “ngọn đồi độc” (poisonous hill) hay “một khu vực giam cầm những tội nhân”.
Năm 1962, S-21 là một ngôi trường phổ thông có tên là “Ponhea Yat”. Sang chế độ Polpot, chúng đã biến nơi đây thành 1 nhà tù với hàng rào và dây điện bao quanh. Có 4 tòa nhà chính trong nhà tù này được sử dụng làm nơi điều hành, giam giữ, thẩm vấn và tra tấn.
Những tội nhân bị giam giữ tại đây là mọi thuộc mọi tầng lớp như công nhân, nông dân, kĩ sư, nhà khoa học, trí thức, giáo sư, giáo viên, sinh viên, các bộ trưởng và những nhà ngoại giao trên khắp đất nước Campuchia. Theo thống kê, đã có khoảng hơn 10.000 lượt người bị giam giữ và giết hại tại đây.
Trước hết, hãy đọc 10 “nguyên tắc” dành cho những tội nhân giam giữ tại đây:

1. Trả lời thẳng câu hỏi. Ko lòng vòng.
2. Đừng có cố mà che giấu sự thật bằng cái kiểu lấy lí do thế nọ hay thế kia. Cấm cãi hay hỏi lại!
3. Đừng có ngu ngốc mà nghĩ rằng mình có thể phá hoại cuộc cách mạng của bọn tao.
4. Trả lời ngay lập tức câu hỏi. Cấm làm mất thời gian.
5. Đừng có nói với tao rằng bọn bay là bất tử hay có thể làm nên 1 cuộc lật đổ.
6. Khi bị đánh hay giật điện, cấm khóc lóc!
7. Ngồi yên tại chỗ và chờ lệnh của tao. Nếu chưa có lệnh, giữ trật tự. Khi tao có việc cho mày, mày phải làm ngay ko phản kháng.
8. Cấm ko ba hoa về Khơ me đỏ để che giấu tội lỗi của chúng mày.
9. Nếu ko tuân thủ các nguyên tắc trên, bọn mày sẽ ăn roi điện.
10. Nếu ko tuân theo mệnh lệnh của bọn tao, chúng sẽ ăn 10 roi điện hoặc 5 lần giật điện.

Tất cả đều là thật! Và hầu hết các đầu lâu đều không còn nguyên vẹn, bị nứt toác một số chỗ do chịu tác động của những cú đập.
Vào sâu bên trong Cánh đồng chết, bắt gặp nhan nhản những hố chôn người tập thể (masgrave):

Mỗi hố này là nơi chôn khoảng vài trăm người, trong đó có cả những người còn sống!

Đây gọi là “magic tree”, nơi treo cổ những tội nhân to mồm, gây mất trật tự công cộng , mục đích là để làm gương cho kẻ khác.

Đối với những người đặt chân đến cánh đồng chết lần thứ 2, cảm giác rất khác so với lần thứ nhất. Vì nếu đi lần đầu, thông thường bạn sẽ đi killing field trước, sau đó mới là đi Toul Sleng – bảo tàng diệt chủng – nơi có những bức ảnh rất hùng hồn về cách thức giết người của Polpot tại Cánh đồng chết. Đối với những người đi lần thứ 2, sau khi đã chứng kiến những bức ảnh ở bảo tàng diệt chủng, thì những cảnh vật ở Cánh đồng chết trở nên sống động hơn bao giờ hết. Mỗi cành cây ngọn cỏ đều làm mình mường tượng ra những cảnh giết người ghê rợn của bọn Polpot, mà đây là một trong những điển hình:

Đây là “killing tree”, nơi bỏ xác của rất nhiều trẻ em. Bọn Polpot giết các em bằng cách cầm chân quật vào thân cây này, hoặc ném thẳng vào thân cây, như thế này này

AFP


Noun Chea, lãnh đạo cao cấp nhất trong số 5 quan chức thuộc chính quyền Khmer Đỏ bị đưa ra xét xử, phải đối mặt với cáo buộc phạm tội ác chiến tranh và tội chống lại loài người.

Gửi phản hồi »

Trước khi bước vào chiến dịch tổng tiến công

Trước khi bước vào chiến dịch tổng tiến công

Sau đòn trừng phạt đầu tiên của ta sâu vào đất đối phương, địch đã tỏ ra lúng túng. Các hoạt động quấy rối của chúng giảm xuống đảng kể.

Trung đoàn bộ binh 95 và trung đoàn bộ binh 31 được giao nhiệm vụ chốt lại để mở rộng và giữ vững bàn đạp. Trung đoàn bộ binh 95 có nhiệm vụ chốt giữ các mục tiêu vừa mới đánh chiếm: trung đoàn bộ binh 31 triển khai trận địa phòng ngự tại ngã ba Công hương và trên trục đường đất đỏ để đánh địch phản kích từ trong nội địa ra.

Ở phía sau, Quân khu đã điều ra một số đơn vị triển khai dọc đường 19 từ đồn biên phòng 23 vào sâu trong đất địch khoảng 1 km, đồng thời, đã huy động hàng ngàn dân ở hậu phương lên phá quang và sửa chữa lại đường để vận chuyển tiếp tế ra phía trước. Trên con đường quốc lộ 19 từ phía Tây đồn biên phòng 23 đến Đức Cơ, đông như ngày hội. Từng đoàn dân công nam có, nữ có đi xen kẽ với những chiếc xe vận tải chở đầy ắp hàng hoá, lương thực quân trang, quân dụng và đạn được nối đuôi nhau từ sân bay dã chiến Đức Cơ lên đến đồnbp 23. “Tất cả cho phía trước!” câu khẩu hiệu hồi chiến tranh giải phóng đã được phục sunh trong cuộc chiến tranh hôm nay.

Sư đoàn bộ binh 801 Pôn Pốt đã lùi căn cứ sâu vào nội địa. Chúng lại tung ra nhiều toán biệt kích tiếp tục bu bám, đánh vào các đơn vị của ta ở phía trước, nhất là xung quanh các trận địa phòng ngự của trung đoàn bộ binh 31 ở khu vực Ngã ba Công hương. Thật đúng với phương châm “địch tiến, ta lùi, địch dừng, ta quấy” mà chúng đã áp dụng từ trước đến nay.

Được giao nhiệm vụ phòng giữ khu vực mới đánh chiếm, chúng tôi đã tiên liệu được tất cả những khó khăn mà đơn vị phải đương đầu. Trung đoàn bộ binh 95 đã sử dụng tiểu đoàn 9, trung đoàn bộ binh 31 (được tăng cường từ khi đánh chiếm XA-XB) làm lực lượng chủ yếu chốt giữ mục tiêu. Còn trung đoàn bộ binh 95 được rút ra, bố trí gần đó làm lực lượng cơ động. Như vậy thực chất toàn bộ trung đoàn bộ binh 31 chúng tôi (bao gồm tiểu đoàn 9) làm nhiệm vụ phòng ngự trực tiếp, đối đầu với sư đoàn bộ binh 801 của địch. Tuy nhiên, sư đoàn bộ binh 801 lúc này đã phân tán trên một diện rộng bao gồm một trung đoàn rải ra, đương đầu với trung đoàn bộ binh 31 trên vòng cung từ phía Đông căn cứ XA-XB-đường đất đỏ-ngã ba Công hương dài gần chục km. Một trung đoàn đứng ở phía Bắc đường 19 cũng bị phân tán, rải ra từ đồnbp 23 đến cao điểm 174 (phía Bắc ngã ba Công hương). Đó là chưa tính đến lực lượng phía sau thuộc các đơn vị của Quân khu 109 nối đuôi với các lực lượng tác chiến với ta ở phía trước theo đội hình “đầu nhọn, đuôi dài”.

Đội hình các đơn vị của ta ở ngã ba Công hương triển khai chưa xong, công sự trận địa còn sơ sài, lực lượng chưa được bổ sung thì địch đã áp sát các vị trí xung quanh ngã ba Công hương và phản kích liên tục hòng đánh bật lực lượng của ta, để chiếm lại những khu vực đã mất.

Cuộc chiến đấu ngày càng quyết liệt. Bước đầu địch có ưu thế về địa hình, lực lượng của chúng còn sung sức (trong trận đánh vừa qua ta diệt không được bao nhiêu, chủ yếu là địch tháo chạy). Có nơi chúng tập trung 2 đến 3 khẩu ĐKZ cùng với các hoả lực khác đánh vào một công sự, hoả điểm của ta. Có những công sự hình chữ A tuy chỉ cao hơn mặt đất khoảng 50-60 cách mạng mà trúng đến ba quả đạn ĐKZ75.

Lúc đó, một số vị trí của ta chịu không được, anh em bì ù tai, một số bị thương phải bật ra khỏi công sự, bọn địch nhảy lên đánh chiếm. Sau đó, ta cơ động lực lượng ra đánh chiếm lại. Ta và địch giành nhua từng công sự, từng ụ súng…

Về sau này, công sự, trận địa của bộ đội ta ngày càng vững chắc hơn. Hệ thống hoả lực từ các trận địa pháo 105 của Quân khu 5 và hoả lực đi cùng của các đơn vị đã chi viện cho chúng tôi, chính xác, chặt chẽ và có hiệu quả. Từ kinh nghiệm trong chiến tranh chống Mỹ, chúng tôi đã tổ chức đội hình phòng ngự một cách phù hợp và kịp thời. Ở tất cả các cấp, nhất thiết phải có lực lượng cơ động dự bị. Lực lượng này do người chỉ huy từng cấp trực tiếp nắm, được bố trí gần vị trí chỉ huy và những nơi có thể vận động đánh tạt sườn và đánh vu hồi vào sau lưng địch. Thực tế cho thấy kẻ địch rất chú ý đến việc đánh bên sườn và phía sau đội hình của ta. Ngược lại chúng cũng rất sợ những mũi vu hồi của ta đánh tạt sườn vào sau lưng chúng. Mỗi một trung đội nhất thiết phải rút ra một tiểu đội làm lực lượng cơ động, mỗi một tiểu đoàn phải rút ra một đại đội làm lực lượng cơ động. Trung đoàn bộ binh 31 chúng tôi sử dụng tiểu đoàn 8 làm lực lượng dự bị cơ động. Đây cũng là quán triệt tư tưởng tiến công trong chiến đấu phòng ngự. Phải loại trừ cho được tư tưởng phòng ngự một cách thụ động, đơn thuần.

Còn lực lượng trực tiếp đối đầu với địch thì đội hình bố trí cũng có lực lượng phía trước, lực lượng phía sau. Lực lượng phía trước chủ yếu dựa vào công sự vững chắc, có chiến hào giao thông nối liền từ vị trí này sang vị trí khác, từ phía trước ra phía sau. Đây là một khối lượng công trình rất lớn, bộ đội ta phải làm cả ngày lẫn đêm dưới làn đạn hoả lực của địch. Cường độ lao động phải bỏ ra không sao kể hết được. Công tác Đảng-công tác chính trị đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường xác định được nhiệm vụ, dũng cảm trong chiến đấu, bằng mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Tôi xin nói rằng suốt một tháng trời, trung đoàn bộ binh 31 của chúng tôi bám trụ nơi đây trong điều kiện mùa mưa, đường vận chuyển tiếp tế phía sau ra phía trước bị lầy lội và địch đánh phá liên tục. Bộ đội chúng ta đã phải chịu thiếu thốn đủ thứ. Mỗi ngày chỉ ăn được một bữa cơm nóng. Riêng lực lượng trực tiếp đối đầu với địch phía trước, lại càng khó khăn hơn nhiều. Có khi phải dùng đến gạo rang, uống nước mưa. Có thời kỳ, trung đoàn bị loại khỏi vòng chiến đấu từ 10-13 đồng chí một ngày. Thế mà suốt một tháng mùa mưa, các đơn vị vẫn kiên cường bám trụ, đánh lui được nhiều đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa. Bộ đội chúng ta trong những ngày tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tuyệt vời như thế đó.

Tuy nhiên, trong cuộc chiến đấu này, đứng giữa cái sống và cái chết trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, một số cán bộ chiến sĩ đã xuất hiện tư tưởng sợ hy sinh ác liệt, ngán ngại vất vả, gian lao.

Ngày 10 tháng 7 năm 1978, lực lượng địch khoảng một tiểu đoàn, thuộc trung đoàn bộ binh 81 từ trong nội địa Campuchia theo đường 19 ra phản kích cách ngã ba Công hương khoảng 500 m. Bộ binh của chúng chia thành nhiều mũi tấn công vào trận địa của ta trên hai hướng: một hướng tiến dọc theo đường 19, một hướng từ phía Bắc cao điểm 174, tiến xuống.

Các lực lượng phía trước của tiểu đoàn 7 dựa vào công sự, hầm hào đánh trả quyết liệt, hoả lực của trung đoàn chi viện bắn vào đội hình và trận địa cối của chúng ở sườn dốc đối diện. Lúc này, trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn 8 dùng một đại đội vận động xuất kích vượt qua phía Bắc đường 19, chiếm lĩnh điểm cao 174 rồi từ đó tiến công vào bên sườn và phía sau của đội hình địch. Khi đội hình vận động vượt qua đám ruộng cạnh đường, địch từ sườn dốc bắn ra rất rát. Lẽ ra đồng chí Cao Ích Nhường là đại đội trưởng phải nhanh chóng triển khai hoả lực chi viện cho bộ đội vượt qua, công kích vào bên sườn đội hình địch, thì anh lại không làm được việc đó, mà cùng với đồng chí Từ Văn Vy là chính trị viên, bỏ lại khẩu ĐKZ75 trên bờ ruộng, rồi kéo cả đại đội chạy về phía sau.

Đây là trường hợp đầu tiên xảy ra đối với một tiểu đoàn mà trước đó chưa từng có.

Tuy nhiên, nhìn chung, toàn thể cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn 8 nói riêng và trung đoàn bộ binh 31 nói chung, vẫn phát huy được truyền thống của đơn vị, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn phòng ngự và trong cuộc tổng tiến công sau này.

Dĩ nhiên hai cán bộ chủ chốt nêu trên sẽ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

Cuộc chiến đấu phòng ngự giữ vững khu vực đầu cầu này ngày càng quyết liệt. Các vị trí ở tiền duyên bị địch bu bám, áp sát các điểm tựa, bộ đội không xuất kích ra được, do hoả lực và những bãi mìn của địch ngăn chặn. Các đơn vị ở phía sau cũng bị địch tung nhiều toán lợi dụng sơ hỏ nơi tiếp giáp giữa các đơn vị, để luồn vào gài mìn, phục kích, cắt đường vận chuyển tiếp tế của ta.

Sở chỉ huy trung đoàn bộ binh 31 đóng ở chính giữa. Phía trước chưa đầy 1 km là tiểu đoàn 7. Bên phải, phía sau (gần trục đường 19) là tiểu đoàn 9. Lúc này tiểu đoàn 9 đã về lại đội hình của trung đoàn bộ binh 31. Còn tiểu đoàn 8 thì bố trí bên cạnh Sở chỉ huy trung đoàn.

Phía sau đội hình trung đoàn bộ binh 31 là trận địa pháo 105 mm của Quân khu. Trận địa pháo này, sau đó được bổ sung cho sư đoàn bộ binh 309 khi được thành lập.

Trên hướng phòng ngự của tiểu đoàn 7 luôn luôn bị địch gây sức ép.

Ngày 25 tháng 8, tôi cử đồng chí Phan Hành Sơn-phó tham mưu trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ gồm trợ lý tác chiến, trợ lý trinh sát, trợ lý công binh lên nghiên cứu để điều chỉnh lại đội hình của tiểu đoàn 7 cho phù hợp. Số cán bộ này vừa ra khỏi Sở chỉ huy trung đoàn khoảng 300 m, thì đồng chí trợ lý tác chiến đi đầu vướng phải mìn. May mắn, anh không sao nhưng đồng chí Phan Hành Sơn đi sau, thứ ba, bị thương nặng.

Phan Hành Sơn là cán bộ chỉ huy dũng cảm, táo bạo. Đồng chí làm một người con của quê hương đất Quảng. Trong chiến tranh chống Mỹ, một mình đồng chí quần nhau với địch xung quanh núi Ngũ Hành Sơn, tiêu diệt hàng chục tên lính Mỹ. Đồng chí được tuyên dương Anh hùng lực lượng vị trí nhân dân.

Trong chiến đấu, mỗi khi giao nhiệm vụ cho đồng chí, chúng tôi rất yên tâm. Với vóc dáng to khỏe, nặng trên 70 kg nhưng tác phong đồng chí nhanh nhẹn, sống chân tình, cởi mở với anh em đồng chí đồng đội. Trong cuộc sống đời thường sau này, đồng chí rất giản dị. Đồng chí bị mất sức chiến đấu lần này, chúng tôi rất tiếc và lại càng thương tiếc hơn khi được tin đồng chí đã từ trần trong một cơn bạo bệnh vào năm 2003, tại quê nhà-nơi đồng chí đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu chống Mỹ.

Cuối tháng 8, miền Đông Bắc Campuchia vẫn đang là mùa mưa. Tất cả các con suối trên trục đường 19 từ Đức Cơ lên biên giới và cả trên phạm vi tỉnh Ratanakiri của Campuchia đều đầy ắp nước và chảy xiết, Lực lượng công binh của Quân khu và dân công phải bắc cầu, nhưng đường thì lầy lội. Do đó bắc cầu xong thì xe cũng không thể đi được. Nhiều đoạn phải chặt cây chống lầy cho xe vận chuyển hàng hoá lên cho bộ đội, nhưng cũng rất hạn chế. Vì vậy, ở phía trước vẫn thiếu thốn đủ thứ.

Quân số ngày càng hao hụt, sức khỏe bộ đội giảm sút nhiều, trong khi cường độ đánh phá của địch lại tăng lên. Chúng lợi dụng mùa mưa tăng cường đánh phá, gây cho ta không ít khó khăn.

Để bảo đảm cho bộ đội chiến đấu lâu dài và nhất là chuẩn bị cho đồng chí tổng tiến công sắp tới, Quân khu quyết định điều động trung đoàn bộ binh 95 và một số đơn vị khác như trung đoàn bộ binh 93, 94 lên thay thế, giữ vững bàn đạp, rút trung đoàn bộ binh 31 chúng tôi về củng cố. Đây là một quyết định đúng đắn và rất kịp thời.

Những ai đã từng sống trong những hoàn cảnh này mới thấy được niềm vui sướng của những người lính từ trong gian khổ, ác liệt được trở về hậu phương tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi.

Hơn một tháng chiến đấu trong mùa mưa, bộ đội gần như kiệt sức, ai cũng mong có được một giấc ngủ thật sâu, một không khí yên tĩnh của thời bình, một ước mơ đơn giản mà đã hàng tháng nay mới có được.

Sau khi bàn giao trận địa cho trung đoàn bộ binh 95, chúng tôi lại về căn cứ mà lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Trong cuộc chiến đấu vừa qua, chúng tôi đã vượt qua bao khó khăn thử thách, đã kiên cường bám trụ và cuối cùng đã hoàn thành nhiệm vụ, không để mất một vị trí nào trước khi bàn giao lại cho Bạn.

Trở về căn cứ, ai cũng tưởng rằng sẽ được xả hơi mấy ngày. Nhưng không! Bộ đội có thể được nghỉ ngơi, nhưng những người chỉ huy, lãnh đạo như chúng tôi thì công việc lại ngập đầu: nào là hội họp, sơ kết, tổng kết, nào là bổ sung quân số, vũ khí trang bị và phải bắt tay ngay vào công tác huấn luyện.

Chúng tôi về căn cứ để củng cố lực lượng, nhưng hàng ngày vẫn dõi theo tình hình diễn biến trên chiến trường Đông Bắc nói riêng và tình hình Campuchia nói chung. Tình hình ở Campuchia lúc này đã có những dấu hiệu đáng chú ý. Tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xa-ri-Khieu Xamphon ngày càng lộ rõ bộ mặt phản bội tư tưởng Mác-xít của chúng. Ở trong nước, chúng thực hiện chính sách vô cùng tàn ác, hà khắc với nhân dân Campuchia. Vì vậy đã xuất hiện phong trào phản chiến trong quân đội. Một số đơn vị bộ đội thuộc Quân khu 203 chạy sang Việt Nam. Một bộ phận nhân dân Campuchia cũng tìm đường vượt biên giới sang nước ta lánh nạn.

Trên chiến trường Đông Bắc, sau khi trung đoàn bộ binh 95 vào thay thế trung đoàn bộ binh 31 để tiếp tục chiến đấu giữ vững bàn đạp, địch tăng cường đánh phá gây sức ép trên toàn tuyến, không những ở chính diện mà ngay cả hai bên sườn và phía sau của các đơn vị cũng bị địch tấn công.

Tại đồn biên phòng 23, chúng lại tiếp tục bu bám và cài mìn xung quanh. Đường 19 từ đồn biên phòng ra phía trước cũng liên tục bị phục kích và gài mìn, khiến cho công tác vận chuyển tiếp tế gặp rất nhiều trở ngại. Một số vị trí của ta ở ngã ba Công hương đã bị địch đánh chiếm. Một số dân công hoả tuyến bị địch phục kích bắt trong đó có cả phụ nữ. Tình hình ngày một phức tạp.

Không thể để mất khu vực đầu cầu có tính chất trọng yếu này. Trước tình hình đó, Quân khu 5 đã điều trung đoàn bộ binh 94, thuộc sư đoàn bộ binh 307 lên triển khai dọc đường 19, sau đội hình trung đoàn bộ binh 95 và một số đơn vị khác, với mục đích tạo thế liên hoàn giữa phía trước với phía sau. Nhưng tình hình vẫn không cải thiện được bao nhiêu.

Tháng 10 năm 1978, sư đoàn bộ binh 801 của địch đã cho một bộ phân lực lượng chiếm lĩnh điểm cao 312 (phía Bắc đường 19 thuộc tỉnh Ratanakiri). Từ bàn đạp này chúng cho nhiều toán xuống khống chế đường 19 và ngầm Ô Gia Đao bằng các thủ đoạn phục kích, gài mìn cắt đứt tiếp tế, cô lập các đơn vị phía trước gồm: trung đoàn bộ binh 94, trung đoàn bộ binh 95 và một số đơn vị khác với phía sau của ta.

Tình hình trên hướng Quân khu 5 lúc này rất nghiêm trọng. Giữa lúc cuộc chiến đấu trên tuyến biên giới Tây Nam ngày càng quyết liệt và phức tạp thì hầu như đồng thời có nhiều sự kiện quan trọng diễn ra cùng lúc: trước tình hình quân đội địch và nhân dân Campuchia gần biên giới căm ghét chế độ Pôn Pốt chạy sang ta ngày một đông, được sự giúp đỡ chí tình của Đảng và Nhà nước ta, “Mặt trận Cứu nguy Dân tộc Campuchia” ra đời. Sau này gọi là “Mặt trận Dân tộc Cứu nước Campuchia” do đồng chí Hêng Somrin làm chủ tịch. Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong diễn biến tình hình ở Campuchia và các nước trong khu vực. Đây là hành lang pháp lý để chúng ta tiến hành thực hiện hai nhiệm vụ cùng lúc: là nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trong đó, nhiệm vụ dân tộc là động lực thúc đẩy.

Từ sự kiện đó, để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của dân tộc, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu đã thành lập nhiều đơn vị mới thuộc các Quân khu phía Nam, trong đó có sư đoàn bộ binh 309 chúng tôi. Sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975, trước tình hình diễn biến bất lợi cho ta ở hai đầu đất nước, quân đội ta cũng đã thành lập ra nhiều đơn vị cơ động của bộ. Đó là những chủ trương rất sáng suốt và kịp thời của Đảng và Nhà nước ta, quân đội ta.

Như vậy chúng ta có thể hiểu là sư đoàn bộ binh 309 và các đơn vị khác ra đời trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, nhằm cùng toàn quân và dân ta thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng và nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế.

Ra đời tại thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc vào ngày 27-9-1978, sư đoàn bộ binh 309 lúc mới thành lập gồm ba trung đoàn bộ binh, nòng cốt là trung đoàn bộ binh 31, một trung đoàn pháo binh (trung đoàn pháo binh 36-sau này đổi thành trung đoàn pháo binh 487) cùng các tiểu đoàn trực thuộc và chuyên môn.

Bộ tư lệnh sư đoàn đầu tiên gồm các đồng chí:

-Thượng tá Lê Chí Thuận (Lê Văn Nẹc)-sư đoàn trưởng.

-Thượng tá Nguyễn Văn Chức-chính uỷ.

-Thượng tá Lê Tá-phó sư đoàn trưởng.

-Trung tá Trần Dực-phó chính uỷ kiêm chủ nhiệm chính trị sư đoàn.

Còn chỉ huy các trung đoàn bộ binh và nhiệm vụ của họ tôi xin nói cụ thể ở các phần sau.

Bây giờ, chúng ta hãy trở lại tình hình ở chiến trường Đông Bắc Campuchia mà lực lượng vị trí Quân khu 5 đang chiến đấu ở đó.

Trước tình hình các đơn vị phía trước bị địch chia cắt. Ngày 20-10-1978, sau khi lui về củng cố chưa được một tháng, theo lệnh của Quân khu, trung đoàn bộ binh 31 lại được giao nhiệm vụ đánh chiếm cao điểm 312, giải toả đường 19 để chi viện cho các đơn vị phía trước đang gặp rất nhiều khó khăn, do không được tiếp tế lương thực, đạn được từ phía sau lên và số thương binh chưa được chuyển về hậu phương.

Đêm 19 tháng 10, đồng chí Lê Chí Thuận sư đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Chước-chính uỷ sư đoàn, trực tiếp xuống giao nhiệm vụ cho trung đoàn bộ binh 31, có đồng chí Khiếu Anh Lân-cán bộ thuộc Quyết định 3 cùng đi để tìm hiểu tình hình ở chiến trường để phục vụ cho các hoạt động sau này.

Vì đang chiến đấu phía trước, nên ngày thành lập sư đoàn chúng tôi không có mặt. Hôm nay mới được gặp sư trưởng và chính uỷ lần đầu tiên trên cương vị mới. Trước đây, trong chiến tranh chống Mỹ, chúng tôi đều ở sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng. Anh Thuận Nẹc là lữ đoàn trưởng đoàn 52, trực tiếp chỉ huy lữ đoàn đánh trận công kiên nổi tiếng ở Gia Vực (Quảng Ngãi), rồi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 12. Sau năm 1975, anh là tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ đoàn 352 làm kinh tế ở Tây Nguyên. Anh là người rất năng động, miệng nói tay làm. Những chủ trương đã được Đảng uỷ đề ra hoặc mệnh lệnh của cấp trên đưa xuống anh bắt buộc cấp dưới phải thực hiện cho bằng được. Với tác phong kiên quyết, giọng Huế oang oang, có lẽ cũng vì thế mà bộ đội gọi là Nẹt, thay vì Nẹc, tên của anh.

Còn chính uỷ Nguyễn Văn Chước thì hoàn toàn ngược lại. Anh là người điềm đạm, lập luận chặt chẽ, tưởng như anh tiết kiệm từng lời nói. Nhưng đối với công tác Đảng, công tác chính trị thì rất sâu sắc. Những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ, anh là chính uỷ trung đoàn bộ binh số 2 sư đoàn 3 Sao Vàng. Chiến dịch Hồ Chí Minh anh vẫn là chính uỷ,còn tôi là quyền trung đoàn trưởng trung đoàn. Chúng tôi cùng tham gia lãnh đạo và chỉ huy trung đoàn tiến công đánh chiếm Vũng Tàu trên hướng Đông Nam của chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau năm 1975, chúng tôi lại gặp nhau và cùng công tác tại trường Hạ sĩ quan Quân khu, đóng ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Hôm nay, chúng tôi lại sát cánh cùng nhau trên chiến trường này. Một lần nữa, chiến tranh lạ đưa chúng tôi đến với nhau.

Tại Sở chỉ huy của trung đoàn, bây giờ đã là 23 giờ, bộ đội đang chìm vào giấc ngủ say sưa sau những tháng ngày căng thẳng ở chiến trường. Duy chỉ có số anh em canh gác và một số đồng chí trực ban của các cơ quan là đang thức.

Đồng chí Khiếu Anh Lân trải tấm bản đồ khu vực thuộc tỉnh Ratanakiri (Campuchia) và Đức Cơ (Việt Nam) lên bàn. Tôi với anh Vũ Huy Lẫm (lúc này anh Lẫm đã được điều về làm chính uỷ trung đoàn thay anh Mai) cùng với một số đồng chí như: trợ lý tác chiến, chủ nhiệm trinh sát, thông tin… tập trung xung quanh tấm bản đồ đã được tác nghiệp về diễn biến địch-ta mới nhất. Nhìn vào tấm bản đồ có những mũi tên “xanh” xen lẫn những chấm “đỏ”, ta có thể hình dung được địch đã tạo được thế xen kẽ với các đơn vị của ta trên toàn bộ phạm vi tác chiến của các đơn vị. Đặc biệt là trên trục đường 19, khu vực cao điểm 312. Đồng chí Khiếu Anh Lân cung cấp một số tình hình mà Quân đoàn 3 nắm được về diễn biến giữa ta và địch, đồng thời, đồng chí sư trưởng sư đoàn 309 phổ biến vụ của Quân khu và tiền phương Bộ giao nhiệm vụ cho sư đoàn 309 nói chung và trung đoàn 31 nói riêng.

Ai nấy đều im lặng. Mỗi người theo đuổi một suy nghĩ, nét mặt đượm vẻ buồn phiền, lo lắng… Có thể buồn vì sau đợt chiến đấu vừa qua, đơn vị rút về củng cố thời gian chưa được bao nhiêu, sức khỏe chưa được hồi phục và đang bộn bề công việc phải làm, thế mà giờ đây, ngay sáng mai, chúng tôi phải lên đường ra trận. Lo lắng là vì nhiệm vụ quá gấp, trong một điều kiện thời gian eo hẹp liệu có hoàn thành được nhiệm vụ ?
Đồng chí sư trưởng Lê Chí Thuận phá tan không khí im lặng bằng giọng nói sang sảng gần như ra lệnh và cũng gần như thuyết phục. Đồng chí nói:

-Tình hình phía trước đang rất khó khăn, sư đoàn giao nhiệm vụ cho trung đoàn bộ binh 31 phải bằng mọi biện pháp khắc phục những khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, tạo thuận lợi cho các đơn vị bạn. Trước mắt, ngay ngày mai, các đồng chí tổ chức cho cán bộ đi trinh sát mục tiêu, còn các đồng chí ở nhà chuẩn bị mọi mặt cho bộ đội. Có khó khăn gì thì cứ báo cáo lên sư đoàn. Các cơ quan phải tập trung mọi khả năng cho trung đoàn bộ binh 31. Nhiệm vụ cụ thể thì lên tiền phương, Quân khu sẽ giao.

Với đức tính điềm đạm của một cán bộ chính trị lâu năm, đồng chí Chước bổ sung thêm:

-Sư đoàn 309 vừa mới thành lập, biên chế, tổ chức và trang bị chưa được hoàn thiện cho lắm. Trung đoàn 31 vừa trải qua chiến đấu hàng tháng trời, bộ đội xuống xuống sức, mệt mỏi. Quân số và trang bị cũng chưa được bổ sung, nhưng trung đoàn đã có những cơ sở thuận lợi hơn các trung đoàn khác. Vì anh em đã kinh qua chiến đấu với đối tượng này, đã có những kinh nghiệm bước đầu, địa hình cũng đã nắm được. Trung đoàn lại là đơn vị chủ công của sư đoàn, yêu cầu các đồng chí nỗ lực cố gắng lãnh đạo, chỉ huy bộ đội. Đánh thắng trận này có ý nghĩa tạo đà để xây dựng sư đoàn. Tuy trung đoàn bộ binh 31 là lực lượng chủ công nhưng tất cả mọi công tác bảo đảm thì sư đoàn và Quân khu sẽ lo, và coi đây là trận chiến đấu đầu tiên của sư đoàn bộ binh 309 sau khi thành lập!

Suốt từ đó trở về sáng, chúng tôi không tài nào chợp mắt được. Bao nhiêu công việc dồn dập ập tới, không biết việc nào cần làm trước, việc nào cần làm sau. Vì tất cả mọi công việc đều cần tiến hành trong một thời gian rất ngắn.

Đêm cuối tháng, trời không mưa. Rừng Tây Nguyên im lìm như trong giấc ngủ. Song tại Sở chỉ huy trung đoàn nhộn nhịp, tất bật hẳn lên.

Như một chương trình đã được cài đặt sẵn trong bộ nhớ máy tính, ba chúng tôi gồm tôi, đồng chí Vũ Huy Lẫm, đồng chí Trương Đình Xướng và mời thêm đồng chí chủ nhiệm chính trị trung đoàn, họp thường vụ. Còn các cơ quan tuy chưa được giao nhiệm vụ cụ thể, nhưng với kinh nghiệm của những năm chiến đấu, các đồng chí đều chủ động triển khai công việc.

Tôi nghĩ bụng: nếu không có những cơ quan như thế này thì tài thánh cũng không thể chỉ huy được bộ đội. Thế mà trong thực tế, lại có những vị chỉ huy thường hay ôm đồm cả công việc của cơ quan, ít quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trợ lý. Thậm chí, còn xem nhẹ vai trò của cơ quan. Do đó, khi sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, cơ quan thường bị phê phán nhiều nhất. Nhất là cơ quan tham mưu và hậu cần. Đó là những điểm vô cùng sai trái

Sáng sớm ngày 20 tháng 10, tôi dẫn đầu đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường xuấ phát lên Đức Cơ. Xe chạy bon bon trên quốc lộ 14 về huớng Pleiku, nhân dân hai bên trục đường vẫn sinh hoạt bình thường như mọi ngày. Bà con ở một số tỉnh phía Bắc vào vùng kinh tế mới đã dựng lên các dãy nhà lợp tranh, vách đất dọc hai bên đường, tập trung nhiều ở khu vực ngã ba đường số 7 và đường 14. Tuy nhiên, trong đàu óc tôi lại suy nghĩ việc khác. Trên đường đi, chúng tôi đã tự sắp xếp cho mình những công việc phải làm như tổ chức các mũi trinh sát, dự kiến phân công cán bộ, công tác bảo đảm thông tin liên lạc…

Tôi nhắc đồng chí Dương Minh Vui-chủ nhiệm trinh sát và đồng chí Nguyễn Hồng Vân-trưởng ban tác chiến:

-Các cậu lên tới nơi nhớ xin bản đồ, địa bàn cho đủ. Như lần trước thì rất khó khăn cho anh em. Lần trước may mắn nhờ anh em trung đoàn bộ binh 95 giúp đỡ, nhưng lần này, mình phải chủ động. Riêng đồng chí Vui nhớ quan hệ với trinh sát trung đoàn bộ binh 95 và trinh sát Quân khu, nắm thật chắc tình hình địch. Vì ta đã rời địa bàn này một tháng trời rồi, trong khi kẻ địch thì luôn luôn thay đổi!

Hai đồng chí cứ vâng vâng, dạ dạ mà không đề nghị gì cả. Có thể các đồng chí cũng đang dè dặt, thận trọng khi chưa biết nhiệm vụ cụ thể ra sao.

Dọc đường vừa nói chuyện, vừa suy nghĩ miên man, chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến nơi.

Trước khi giao nhiệm vụ cụ thể cho trung đoàn bộ binh 31, đồng chí sư đoàn trưởng cho biết một số tình hình địch, tập trung vào mục tiêu được phân công-cao điểm 312.

So với tối hôm qua, tại Sở chỉ huy của trung đoàn vẫn không có gì mới. Tôi nghĩ thầm “Có lẽ các bố nắm địch không chắc”. Mà đúng vậy, với một đối tượng như thế này quả là rất khó xác định. Cho đến bây giờ vẫn chưa ai xác định được phiên hiệu đơn vị, biên chế, tổ chức, trang bị của địch trên Quân khu Đông Bắc này. Chúng có bao nhiêu sư đoàn, trung đoàn trên các Quân khu và cả nước Campuchia? Chỉ biết rằng qua khai thác tù bình và đào binh thì trên phạm vi tỉnh Ratarakiri, lực lượng chính quy của địch tác chiến với các đơn vị của Quân khu 5 lúc này chỉ có sư đoàn bộ binh 801. Với những điều kiện khó khăn về địa hình, về âm mưu thù đoạn của địch và cả về những mặt hạn chế của trinh sát ta, cho đến giờ này, ta vẫn chưa nắm được và có thể sẽ không nắm được lực lượng, mức độ công sự và hoả lực của địch trên cao điểm 312. Chỉ biết chắc chắn rằng địch đã bố trí hoả lực ĐKZ, 12.7 mm và cối 100 mm tại sườn Đông Nam điểm cao 312 cùng với một lực lượng bộ binh để khống chế đường số 19. Các nơi khác, đặc biệt là ngầm Ô Gia Đao, bộ đội ta đi qua thường xuyên bị phục kích, hoặc giẫm phải mìn. Còn vật cản xung quanh cao điểm 312 thì chủ yếu là mìn với mật độ cao, nhiều loại, nhiều kiểu, được bố trí rất nham hiểm.

Cũng vì mới biết về địch như thế nên đồng chí sư trưởng giao ngay nhiệm vụ cho trung đoàn như sau:

-Trung đoàn bộ binh 31 được sự chi viện trực tiếp của 2 trận địa pháo 155 mm và 105 mm của Quân khu (bố trí tại khu vực ngầm Ô Gia Đao) và sự phối hợp của các đơn vị phía trước (như trung đoàn bộ binh 94) có nhiệm vụ:

1.Tiến công đánh chiếm cao điểm 312, từ đó phát triển chiến đấu xuống trục đường số 19 nhằm giải toả đoạn đường từ ngầm Ô Gia Đao đến đoạn tiếp giáp với trung đoàn bộ binh 94, phía Tây Nam điểm cao 312.

2.Tổ chức chốt giữ các mỏm 1, 2, 3 của cao điểm 312, nhanh chóng củng cố đội hình, sẵn sàng khi có lệnh sẽ cơ động theo nhiệm vụ của Quân khu giao.

-Sở chỉ huy trung đoàn đặt cạnh Sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn bên cạnh đường số 19, phía Nam điểm cao 312.

-Vào 17 giờ, ngày 22 tháng 10, phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị và báo cáo cho sư đoàn.

Thời gian gấp quá, biết làm thế nào bây giờ? Tình hình khó khăn của trung đoàn thì sư đoàn và Quân khu cũng đã biết mà các đơn vị Bạn đang chiến đấu phía trước lại rất cần sự có mặt của chúng tôi. Nghĩ thế, tôi điện cho đồng chí Vũ Huy Lẫm-chính uỷ và đồng chí Trương Đình Xướng-tham mưu trưởng, cơ động bộ đội lên Đức Cơ. Và, ngay chiều tối hôm đó, tổ chức trinh sát điểm cao 312.

Tôi trực tiếp đi trinh sát trên hướng chủ yếu-hướng Nam, Đông Nam điểm cao. Trên hướng này, dự kiến sẽ sử dụng một tiểu đoàn tăng cường, tiểu đoàn bộ binh số 7. Cán bộ đi trinh sát bao gồm đồng chí Lê Văn Thuận-tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn số 7 và hai cán bộ đại đội trưởng, đồng chí Dương Minh Vui-chủ nhiệm trinh sát và một số chiến sĩ. Ngoài ra, còn có một số cán bộ chỉ huy hoả lực của trung đoàn và hoả lực tăng cường.

Trên hướng Tây Bắc, dự kiến sử dụng một tiểu đoàn bộ binh số 9 phối hợp với một tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh 276, tỉnh Đắc Lắc, đang hoạt động tại đây. Do đó, trên hướng này, đồng chí trợ lý tác chiến trung đoàn cùng với đồng chí Đinh Văn Tự-tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn số 9 và các đại đội trưởng đi trinh sát. Tối 21 tháng 10, lực lượng trinh sát đi trên hướng chủ yếu đã vào đến chân điểm cao 312, thì đồng chí Dương Minh Vui đạp phải mìn bị thương rất nặng. Tuy vậy, công việc vẫn được tiến hành.

Tối hôm đó, đội hình trung đoàn cũng đã cơ động lên Đức Cơ. Quân khu bổ sung cho trung đoàn trên 500 tân binh, hầu hết anh em quê ở Quảng Nam-Đà Nẵng và một số tỉnh miền Trung. Lớp tân binh này vừa mới hoàn thành chương trình huấn luyện cơ bản. Bao gồm các bài bắn súng tập 1, kỹ thuật gỡ và cách bố trí mìn của địch, động tác đào công sự, nguỵ trang và chiến thuật từ cá nhân đến tổ 3 người. Có thể nói về quân số là tương đối đủ, đảm bảo được biên chế thấp nhất trong thời chiến (trong chiến tranh vừa qua ta đã thực hiện các biểu biên chế cho từng đơn vị, lấy cơ sở là tiểu đội bộ binh 7, 9, 12 đồng chí)
Công việc bổ sung vũ khí, đạn dược, sinh hoạt bộ đội và làm các công tác khác được thực hiện từ ngày 22 đến chiều ngày 23 tháng 10. Đúng 18 giờ từ vị trí tập kết, các mũi, các hướng tiếp cận tuyến triển khai xuất phát tiến công. Trời mùa dông, vùng rừng núi tối đen như mực, mọi người phải bám sát nhau. Hướng thứ yếu, đường xa phải vòng xuống phía Nam rồi ngược lên băng qua đường 19 là nơi địch thường ra phục kích, gài mìn. Ngày hôm trước chúng tôi đã cho trinh sát chốt lại, đồng thời hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng chiến đấu tại chỗ. Vượt qua đường 19 là vào khu vực của một tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh 726 đang đóng chốt tại đây. Có thể nói suốt đêm 23 tháng 10, đội hình tiếp cận phải nhích từng bước. Lâu nhất là công tác gỡ mìn địch, rồi đưa từng bộ phận vào chiếm lĩnh.

Các trận địa hoả lực như pháo 105mm, 155mm của Quân khu đã bố trí từ trước, sẵn sàng chi viện cho bộ đội tiếp cận tuyến xuất phát tiến công. Chỉ còn trận địa ĐKZ75 thì đêm nay mới chiếm lĩnh, để trực tiếp chi viện cho bộ đội đột phá cửa mở, trên hướng chủ yếu của trung đoàn. Cán bộ chỉ huy các cấp chạy ra chạy vào như con thoi để đưa lực lượng vào vị trí, giao nhiệm vụ cho bộ đội tại thực địa và nhắc lại hiệp đồng chiến đấu.

Sườn cao điểm 312 nhiều đá không làm được công sự như mong muốn. Bù vào đó là có nhiều gốc cây to và một số ụ mối. Bộ đội chủ yếu lợi dụng địa hình tự nhiên để triển khai lực lượng. Tôi ở Sở chỉ huy trung đoàn, phía sau đội hình trên hướng chủ yếu, mà trong lòng cứ nôn nao. Nhiều lúc như nín thở theo dõi từng bước tiếp cận của các lực lượng qua mạng thông tin hữu tuyến. Đồng chí trợ lý tác chiến, dưới ánh đèn pin được che sáng, đánh dấu từng vị trí mà các đơn vị đã được triển khai xong lên bản đồ. Mỗi một ký hiệu mũi tên màu đỏ nhích lên đến đâu thì bên dưới có ghi thời gian. Mọi người đều tập trung cao độ tâm trí trong giai đoạn này.

Trên hướng thứ yếu, tôi cử đồng chí Nguyễn Thành Út-Phó chính uỷ trung đoàn và một số cán bộ cơ quan tham mưu đi theo để đôn đốc, chỉ đạo và giúp đỡ anh em trong những lúc khó khăn.

Cho đến lúc này, khoảng 23 giờ 30 mạng thông tin liên lạc vẫn thông suốt, chủ yếu trên hướng tiểu đoàn 7. Còn tiểu đoàn 9, trên hướng thứ yếu dùng thông tin vô tuyến, chỉ mở máy “canh” nhưng không được “phát”.
Với địa hình rừng núi, nếu như trước đây, sở trường của bộ đội ta là thường hay tập kích ban đêm, còn bây giờ, điều đó là không thể. Do đó, hợp đồng tác chiến trong trận này và mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành trước 5 giờ sáng ngày 24 tháng 10.

Đồng hồ như chạy chậm lại. Thời gian như dài ra. Tôi ngồi tại Sở chỉ huy trung đoàn mà trong lòng như lửa đốt, xung quanh là các trợ lý tác chiến, trinh sát, thông tin, pháo binh… Ngoài mạng thông tin hữu tuyến còn có tổ máy thông tin vô tuyến của trung đoàn và một tổ của sư đoàn tăng cường xuống để liên lạc với cấp trên. Để bảo đảm hệ thống thông tin chỉ huy luôn được thông suốt, ngoài hai mạng thông tin vô tuyến và hữu tuyến, đồng chí chủ nhiệm thông tin còn đưa đến Sở chỉ huy thêm một tổ ba đồng chí liên lạc chạy bộ. Chúng tôi đã áp dụng mọi biện pháp để lúc nào cũng nắm được tình hình diễn biến trên các hướng và có thể chỉ huy các đơn vị một cách nhanh nhất. Vì vậy, sau khi nổ súng, mỗi một mệnh lệnh đều được phát đi bằng tất cả mọi phương tiện.

5 giờ rồi, 6 giờ đã trôi qua mà trời chưa sáng hẳn. Trên các hướng đã chiếm lĩnh trận địa một cách thuận lợi.
Sương mù dày đặc, trắng như bông trùm xuống các điểm cao. Đến 7 giờ 30, cao điểm 312 chỉ còn một lớp mây trắng bao quanh sườn núi như một vành khăn tang. Trên hướng chủ yếu, đồng chí Lê Văn Thuận-tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 báo cáo là anh đã nhìn thấy rõ đỉnh đồi và một số công sự được xếp lại bằng đá cách tuyến xuất phát xung phong chưa đầy 200 m. Đài quan sát pháo binh của Quân khu cũng báo cáo là đã nhìn thấy rõ đỉnh của ba mỏm đồi thuộc điểm cao 312!

Đồng chí Lê Chí Thuận-sư đoàn trưởng điện cho tôi hỏi:

-Đã nổ súng được chưa?

Tuy đây không phải là lần đầu tiên ra trận, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy hồi hộp.

-Đề nghị thủ trưởng cho nổ súng!-Tôi báo cáo với đồng chí sư trưởng.

Sau khi được câp trên cho phép, tôi ra lệnh nổ súng. Lập tức các trận địa pháo, cối của Quân khu và sư đoàn dồn dập nện xuống các mục tiêu theo kế hoạch hiệp đồng. Tiếng nổ ầm ầm của đạn pháo, đất đá văng tứ tung, cây cối gãy đổ ngổn ngang. Đạn ĐKZ xé tan không khí nghe chát chúa. Cả một vùng rừng núi ầm ầm tiếng nổ.

Bộ đội trên các hướng vẫn tận dụng những yếu tố bất ngờ vận động tiếp cận vào gần mục tiêu hơn. Anh em lợi dụng những gốc cây, ụ mối di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác, dưới sự chi viện của hoả lực pháo binh. Phải nói rằng lớp chiến sĩ vừa mới được bổ sung hôm qua, tuy lần đầu ra trận nhưng thể hiện được tinh thần dũng cảm chiến đấu. Họ đã vận động dưới làn đạn của ta bay vèo vèo trên đầu mà không hề biết sợ, cứ thế xông lên.

Sau 15 phút pháo bắn dồn dập lên đỉnh đồi, bộ đội ta ào ào xung phong đánh chiếm các mục tiêu trên sườn đồi và phát triển lên đỉnh đồi. Lợi dụng địa hình điểm cao khống chế, địch chống trả quyết liệt. Với lối đánh táo bạo và tinh thần tiến công kiên quyết của bộ đội ta, nhưng bọn địch vẫn chống trả đến cùng. Tiểu đoàn 7 đã phải tổ chức nhiều đợt công kích liên tiếp, mới làm chủ được mỏm 1. Địch bỏ lại nhiều xác chết. Số còn lại di chuyển sang mỏm đồi thứ 2, trên hướng của tiểu đoàn 9. Tôi rời Sở chỉ huy mang theo một máy thông tin vô tuyến rồi kéo cả đồng chí Thuận chạy lên. Tại đây, bộ đội ta đã làm chủ, đang khẩn trương tổ chức triển khai đội hình tiến công sang mỏm 2.

Đồng chí Thuận đã cơ động kịp thời khẩu ĐKZ75, một khẩu súng máy 12,7 mm và cùng mấy khẩu cối 60 mm của các đại đội lên trước triển khai hai bên sườn mỏm 1 và chế áp mãnh liệt cao điểm số 2. Chẳng mấy chốc bộ đội ta đã chiếm được cao điểm này.

Phải thừa nhận đồng chí Thuận nắm bộ đội rất chắc, tiến tới đâu là kịp thời đưa hoả lực lên đến đó. Bình thường trong sinh hoạt, tác phong đồng chí chậm chạp, bản tính thật thà, nên ai cũng quý mến. Trong chiến đấu đồng chí lại rất bình tĩnh và kiên quyết. Sau này đồng chí đã trở thành một cán bộ sư đoàn, có nhiều kinh nghiệm trên chiến trường.
Tại cao điểm số 3, hướng của tiểu đoàn bộ binh số 9, bọn tàn quân từ cao điểm 1 và 2 chạy dồn sang, ra sức kháng cự một cách ngoan cố. Đến 13 giờ, mà tiểu đoàn bộ binh số 9 vẫn chưa tiến lên được. Địch từ trên cao bắn xuống rất rát, đạn bay rít trên đầu. Tiểu đoàn 9 phải nằm lại trên trận địa của tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn bộ binh 726. Tình hình quá căng thẳng, tôi cũng một tổ trinh sát vận động sang và cùng với đồng chí Nguyễn Thành Út tổ chức cho tiểu đoàn 9 tiếp tục công kích. Được sự phối hợp của tiểu đoàn bộ binh 7 từ cao điểm số 2 tiến công sang, tiểu đoàn bộ binh 9 xung phong liên tục và làm chủ được điểm cao số 3. Địch bỏ trận địa, chạy xuống bờ sông Tôn-lê San. Chúng di chuyển về hướng Tây, rồi vòng xuống, đánh tạt sườn vào phía sau tiểu đoàn bộ binh 9 và tiểu đoàn bộ binh 3 của trung đoàn bộ binh 726. Ta lại phải tổ chức đánh phản kích, đồng thời, củng cố trận địa vừa mới chiếm được.

Vào 15 giờ ngày 24 tháng 10, trung đoàn bộ binh 31 hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt tại chỗ 66 tên, thu 23 khẩu súng các loại.

Phối hợp với trung đoàn bộ binh 31, trung đoàn bộ binh 94 và một số lực lượng khác cũng tiến công các toán địch trên đường số 19 và lực lượng của chúng ở sương Tây Nam cao điểm 312, cách mặt đường số 19 khoảng 200m. Đến chiều ngày 24 tháng 10, đường số 19 được giải toả thông suốt nối liền tiền tuyến với hậu phương. Các đơn vị ở phía trước rất phấn khởi. Như vậy, trận đầu ra quân của sư đoàn bộ binh 309 hoàn toàn thắng lợi. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là nền tảng, là trang sử hiển hách đầu tiên của sư đoàn.

Quân khu Đông Bắc là một địa bàn chiến lược quan trọng đối với chiến trường Campuchia. Đường quốc lộ số 19 nối với đường quốc lộ số 14, Việt Nam chạy xuyên qua tỉnh Ratanakiri đến thị trấn Bô Keo, qua Stưng Treng, Prêch-vi-hia rồi đến các tỉnh phía Bắc và Tây Bắc Campuchia.

Sau một loạt những trận chiến đấu mở màn, ta đã đưa chiến tranh sang đất đối phương, giải phóng được một khu vực rộng lớn. Địch bị đẩy sâu vào nội địa.

Đối với ta, đây là một địa bàn rất quan trọng. Trước mắt cùng với các hướng khác, chúng ta đã loại trừ được mối nguy cơ đe dọa tình hình an ninh quốc gia và vùng lãnh thổ Tây Nguyên. Sau nữa, đây là bàn đạp lý tưởng bảo đảm triển khai đội hình tổng tiến công trên một hướng chiến dịch, có ý nghĩa chiến lược của quân đội ta ở phía Tây Nam.

Vì vậy, cuộc chiến đấu ở nơi đây giữa ta và địch ngày càng quyết liệt.

Sau khi ta đánh chiếm cao điểm 312, giải toả đường 19, nối liền các đơn vị phía trước với phía sau, Quân khu đã đưa một bộ phận lực lượng lên chốt giữ. Trung đoàn bộ binh 31 cơ động xuống sườn phía Nam để ngăn chặn địch phản kích ở cao điểm 230, đoạn Phinây-đồi không tên, phía nam đường số 19 gần 2 km.

Sư đoàn bộ binh 801 Pôn Pốt, đã vòng xuống phía Nam hòng đột kích vào sườn cánh trái của đội hình hướng Quân khu 5.

Thắng lợi của Trung đoàn bộ binh 31 tại cụm điểm cao 312 đã khích lệ các đơn vị trong sư đoàn và trên toàn bột Mặt trận Đông Bắc. Trong các đơn vị dấy lên một phong trào thi đua giết giặc lập công.

Trung đoàn bộ binh 96 bắt đầu bước vào chiến đấu bên cạnh trung đoàn bộ binh 31. Là một trung đoàn có bề dày lịch sử từ cuộc chiến tranh chống Pháp rồi đến chiến tranh chống Mỹ, trung đoàn bộ binh 96 đã làm nên những chiến công hiển hách cùng các lực lượng vũ trang Quân khu 5, giải phóng thị xã Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam) và đảm nhiệm trên hướng quan trọng giải phóng thành phố Đà Nẵng trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cùng với cả nước hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế, trung đoàn bộ binh 96 được điều về đứng trong đội hình sư đoàn bộ binh 309. Người trung đoàn trưởng đầu tiên trong thời gian này là thiếu tá Huỳnh Kim Sơn và chính uỷ trung đoàn là thiếu tá Lê Đình Phùng. Sở trường chiến đấu của trung đoàn bộ binh 96 là đánh vận động. Sau này, trong nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, trung đoàn bộ binh 96 cũng là một trung đoàn luôn hoàn thành nhiệm vụ trong tác chiến vận động và chiến đấu phòng ngự trong những điều kiện bất lợi.

Thời gian này, trong nhiệm vụ đánh địch phản kích giữ vững và phát triển thế tiến công, trung đoàn bộ binh 96 đã từ căn cứ đóng quân ở chân đèo An Khê-tỉnh Gia Lai, cơ động lên ngăn chặn địch ở khu vực điểm cao 230 đến Phinây, cùng với trung đoàn bộ binh 31. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt.

Tại khu vực này, địch có một trung đoàn bộ binh, được rải ra trên một tuyến dài khoảng 5 km hòng ngăn chặn sự phát triển mở rộng bàn đạp của ta. Lực lượng của địch trực tiếp đối đầu với ta được bố trí như sau:

-Một tiểu đoàn ở khu vực cao điểm 230

-Một tiểu đoàn ở khu vực đồi không tên

-Sở chỉ huy và một tiểu đoàn cùng với trận địa hoả lực cối 120 mm ở khu vực làng Phinây.

Tuy đã hình thành một tuyến ngăn chặn như vậy, nhưng địch không hề phòng ngự thụ động, cố định, mà mục tiêu luôn luôn cơ động, biến đổi. Chúng đã tích cực áp dụng lối đánh luồn sâu, vu hồi hai bên sườn và phía sau đội hình của ta.

Có thể nói, bước đầu, những đơn vị của ta từ phía sau được đưa lên đây chiến đấu có phần lúng túng. Thêm vào đó là địa hình ở đây là rừng già, rừng tái sinh kín mít, rất khó cơ động những lực lượng lớn. Khắp nơi, từ phía trước, phía sau và hai bên, súng địch nổ liên tục, những lại không thấy rõ mục tiêu cụ thể nào để tiến công. Nhiều lúc ta phải nổ súng tiêu diệt những mục tiêu nhỏ lẻ và phải đánh vỗ mặt. Tình hình có nhiều bất lợi. Bộ đội ta ngày nào cũng có thương vong. Có khi thương vong do mìn địch, có khi bị chúng phục kích sâu trong đội hình của ta. Và, đặc biệt là trận địa cối 120 mm ở Phinây đã gây không ít khó khăn cho các đơn vị ở đây.

Phải bằng mọi giá tiêu diệt bằng được trận địa cối này! Buộc chúng phải câm họng. Vấn đề quan trọng bây giờ là công tác trung đoàn nắm địch.

Tất cả những ai đã từng kinh qua chiến đấu ở đây đều biết, việc trinh sát nắm địch là rất khó khăn. Mục tiêu Sở chỉ huy và trận địa hoả lực của địch đặt sâu trong đội hình phía sau. Phía trước, chính diện với các đơn vị của ta, thì địch đang bu bám. Mỗi hành động của ta lúc này đều không lọt được qua các bộ phận tiền tiêu của địch. Anh em ta chỉ dựa vào bản đồ, địa bàn, và tính toán cự ly bằng tiếng động từ khi trận địa cối “đềpa” đến khi tiếng nổ của quả đạn mà xác định trận địa cối của kẻ địch ở ngay tại Phinây-một phum nhỏ hẹp. Các trận địa cối, pháo của ta bắn mãi mà không trúng. Sư đoàn đã chỉ thị ngay cho tổ trinh sát, trong đó có đồng chí Phạm Văn Mai, phải “mò” cho bằng được trận địa cối này của địch.

Phạm Văn Mai là một cán bộ trinh sát rất bình tĩnh, gan dạ và là một cán bộ xuất sắc trong công tác trinh sát. Trong trận đánh vào Phinây, đồng chí đã vào ngay trận địa cối của địch, giúp cho sư đoàn hạ quyết tâm chính xác. Dù kẻ địch có nham hiểm che mắt ta đến đâu, đồng chí cũng “mò” ra được nơi ở của chúng. Tôi là một trong những cán bộ chỉ huy đã đi điều nghiên với đồng chí và các chiến sĩ trinh sát của đồng chí rất nhiều lần. Lần nào có Mai đi cùng, tôi cũng cảm thấy rất yên tâm.

Phạm Văn Mai có dáng người thâm thấpm cao chưa đến 1m60, nước da ngâm đen vì thường xuyên dải dầi mưa nắng, đôi môi tái nhợt vì bị sốt rét nhiều. Sau khi chuyển sang địa bàn Bát Tam Băng, từ một trợ lý trinh sát, anh đã được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát 21 của sư đoàn bộ binh 309. Có lần anh tổ chức, đưa đoàn cán bộ trinh sát của sư đoàn và trung đoàn bộ binh 31, gồm có tôi, đồng chí Đào Quang Năm-phó sư đoàn trưởng và một số đồng chí khác luồn sâu vào đất Thái Lan trên 10 km để tìm căn cứ của Pôn Pốt. Chuyến đi này rất thành công. Sau đó, anh lại tiếp tục dẫn một đoàn cán bộ khác do đồng chí Nguyễn Văn Táo-phó trung đoàn trưởng đi tiếp. Trên đường về, đơn vị lại bị địch bám theo tập kích vào đội hình lúc anh em dừng lại nghỉ giải lao trên đất Thái Lan. Ở “nhà” chúng tôi bắt được đài kỹ thuật, biết được số cán bộ của ta bị đích tập kích, thu một số trang bị. Nhưng rất may dưới sự dẫn đường của tổ trinh sát do anh chỉ huy, đã đưa được cán bộ về nơi an toàn cả người và vũ khí. Trong các trận tiến công hàng loạt vào các căn cứ địch từ Phnôm Mê Lai đến Ô-đa sau này, nhiều lần các toán trinh sát do Phạm Văn Mai chỉ huy, đã luồn sang đất Thái Lan, bọc phía sau các căn cứ địch dọc tuyến biên giới. Do vậy, trước khi tiến công địch, sư đoàn đã nắm chính xác được các mục tiêu.

Trong các trận tiến công vào Phinây lần này, nhờ công tác trinh sát tốt, nắm rõ được mục tiêu mà ngay từ đầu, sư đoàn đã tập trung được hoả lực, tiêu diệt được trận địa cối và Sở chỉ huy của địch ở đây.

Trong trận này, sư đoàn đã đưa pháo 105 mm và pháo phòng không 37 mm vào gần, hạ nòng bắn theo tà âm. Với sức công phá của pháo 105 mm bắn thẳng và đạn pháo phòng không 37 mm vướng vào cây nổ từ trên cao chụp xuống đã uy hiếp mạnh mẽ tinh thần của địch. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, trung đoàn bộ binh 812 đã đánh chiếm mục tiêu Phinây mở toang được cánh để đưa đội hình chiến dịch vào tổng tiến công trên hướng của Quân khu 5.

__________________

Comments (2) »

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.